chương 1 đến chương 3 đẻ làm căn cứ cho cơ sở lý thuyết của luận văn. ~_ Giáo trình Bảo hiểm xã hội của Hoàng Mạnh Cừ, Đỗ Thị Thu Hương (2011), NXB Tài chính. [2] Giáo trình đã cung cấp nhưng kiến thức lý luận cơ bản về lĩnh vực bảo hiểm phi thương mại, trong điều kiện hệ thống các văn bản pháp lý không ngừng được hoàn thiện để phù hợp với những thay đổi của Luật BHXH, Luật BHYT. Giáo trình đã hệ thống những vấn đề cơ bản về bảo hiểm như lịch sử hình thành và phát triển, đặc điểm, vai trò của Bảo hiểm xã hội đối với quốc gia: tầm quan trọng của quản lý nhà nước đối với BHXH, đưa ra mô hình quản lý nhà nước đối với BHXH ở một số nước.
Giáo trình gồm 4 chương bao gồm các lý thuyết về BHXH, hệ thống các chế độ của BHXH, tài chính BHXH, quản lý nhà nước về BHXH vừa đảm bảo tính khoa học, hiện đại, vừa phù hợp với điều kiện kiện các nước đang phát triển hiện nay. Giáo trình cung cấp những kiến thức mà tác giả vận dụng làm nền tảng cho phan lập luận phân tích hoàn thiện luận văn. Giáo trình Bảo hiểm xã hội của Võ Thành Tâm (2018). Nội dung giáo trình gồm có 5 chương.
Giáo trình cung cấp kiến thức về lịch sử hình thành, chức năng, bản chất của Bảo hiểm xã hội. Mô tả từng loại Bảo hiểm xã hội và công tác quản lý Bảo hiểm xã hội. Nội dung của giáo trình đề cập sâu vào. từng nghiệp vụ thuộc lĩnh vực Bảo hiểm xã hội hơn là công tác quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, thông qua nội dung giáo trình học viên có thể hiểu sâu hơn về các lĩnh vực thuộc Bảo hiểm xã hội. Ngoài 3 giáo trình chính trên, thực hiện luận văn tác giả còn nghiên cứu 2 giáo trình: “Giáo trình kinh tế bảo hiểm” của PGS. TS Nguyễn Vị Vượng (2006), Trường Đại học Công đoàn, Nhà xuất bản lao động; “Giáo trình bảo hiểm” của PGS. Nguyễn Văn Định (2008), Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội.
Nội dung các giáo trình này không chỉ đề cập. đến BHXH mà còn đề cập đến bảo hiểm thương mại, các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. Bao hiém xã hội là một trong những hoạt động nhằm đảm bảo an sinh xã hội do đó chịu sự quản lý của nhà nước. Tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Luật BHXH số 68/2015, được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành ngày 15 tháng 10 năm 2015 (Gọi tắt là Luật BXHX 2015) nêu rõ các hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của các bên liên quan đến công tác quản lý, thực thi các chính sách BHXH.
Luật BHXH 2015 đã khắc phục được nhiều điểm bắt cập trong Luật BHXH 2006, đặc biệt sự thay đổi quy định trong các chế độ trợ cấp của BHXH bắt buộc đã đem lại thêm nhiều lợi ích hơn cho. người lao động; tạo tiền đề cho việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tới mọi người lao động, góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. Đây chính là cơ sở pháp lý cao nhất quy định chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến Bảo hiểm xã hội; từ đó làm căn cứ phân tích trong quá trình thực hiện luận văn. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến Bảo hiểm xã hội của các tác giả trước đây như: ~ Trong nghiên cứu “Phát triển hệ thông an sinh xã hội của Liệt Nam đến năm 2020” của TS.
Nguyễn Thị Lan Hương, ThS. Đặng Kim Chung, ThS Lưu Quang Tuấn, ThS. Nguyễn Bích Ngọc, CN. Đặng Hà Thu (2013) [3].
nhóm tác giả thuộc Viện khoa học lao động và xã hội đã nghiên cứu chỉ tiết các chính sách của nhóm chính sách Bảo hiểm xã hội, một trong những cấu phần của hệ thống An sinh xã hội của Việt Nam. Qua đó, các tác giả cũng. đưa ra những tồn tại và nguyên nhân của từng chính sách, từ đó đưa ra định hướng phát triển chính sách. Tuy nhiên định hướng phát triển chính sách của nghiên cứu vẫn chưa nêu được các giải pháp thực thi cụ thể dành cho những người đang thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội.
~ Đào Thế Khoa (2012), “7hực trạng và giải pháp tăng cường quản lý. chỉ tại BHXH Tỉnh Thái Nguyên ", luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế, trường đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về quản lý chỉ BHXH; phân tích đánh giá thực trạng quản lý chỉ BHXH tại BHXH tỉnh Thái Nguyên. Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chỉ tại BHXH tỉnh Thái Nguyên.
- Nguyễn Thị Chính (2010), “/oàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chỉ trả các chế độ BHXH ở Lào ”, luận án tiễn sỹ kinh tế, trường đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả của luận án đã đi sâu phân tích những vấn đẻ lý luận cơ bản về hệ thống tổ chức và hoạt động chỉ trả các chế độ BHXH; phân tích đánh giá thực trạng hệ thống tổ chức và hoạt động chỉ trả các chế độ BHXH ở Lào. Đề xuất định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chỉ trả các chế độ BHXH ở Lào. - Ngô Võ Lược (2014), “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu, chi qu? BHXH, BHYT bắt buộc tại BHXH tỉnh Hoa Binh”, luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, trường đại học Bách khoa Hà Nội.
Tác giả luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về BHXH, BHYT và quản lý thu, chỉ quy BHXH, BHYT bắt buộc, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu, chỉ BHXH, BHYT bắt buộc tại BHXH tỉnh Hòa Bình. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý thu, chỉ quy BHXH, BHYT bắt buộc ở BHXH tỉnh Hòa Bình. Ngoài ra còn có các đề tài liên quan đến lĩnh vực BHXH như: Công trình “Quản ý nhà nước về BHXH tại thành phố Đà Nẵng” của ThS.Trần Thi Quý Thanh (2017), Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng [4], Công trình “Hoàn thiện quản lý nhà nước về BHXH tại tỉnh Kon Tum ” của ThS. Nguyễn Thị Mỹ Sen (2017), Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng [5], Công trình “Luật pháp về Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ" của TS.
Nguyễn Thị Lan Huong (2013), Đại học Quốc gia Hà Nội [6], Công trình “/foàn thiện công tác quản lý chỉ BHXH tại BHXH thành phố Đà Nẵng” Đoàn Thị Lệ Hoa (2012), Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng [7]. Các đề tài này thường nhấn mạnh việc quản lý nhà nước về BHXH nói chung, quản lý chỉ BHXH hoặc nói đến một mảng chế độ chính sách đối với một đối tượng người lao động: đồng thời các tác giả chưa nêu bật được cụ thể việc lạm dụng quỹ BHXH như thế nào và đưa ra được giải pháp đối với việc thực hiện chính sách BHXH. Ở đề tài này tác giả đi sâu hơn vào việc quản lý nhà nước về chỉ BHXH ở cấp tỉnh, đánh giá thực trạng công tác quản lý chỉ trả BHXH để góp phần đưa ra những giải pháp mới cho người thi hành chính sách có thể ứng dụng giúp cho quá trình thực thi chính sách hiệu quả hơn, giảm thiểu rủi ro trong việc thất thoát quy BHXH. 10 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY CHI BAO HIEM XA HOI 1.
KHAT QUAT QUAN LY CHI BAO HIEM XA HOI 1.1 Bảo hiểm xã hội a. Khái niệm Bảo hiểm xã hội Có rất nhiều định nghĩa về bảo hiểm xã hội, theo D. Pieters thì “Bảo. hiểm xã hội được hiểu với tư cách là một tổ chức được hình thành với mục đích hỗ tương giữa người với người để đối phó với sự thiếu hụt thu nhập (chẳng hạn như thu nhập từ tiền công lao động), hoặc những tổn thất cụ thể khác”.
Tác giả Sinfield thì đề nghị “Bảo hiểm xã hội nên được định nghĩa là một cơ chế bảo đảm an toàn toàn diện cho con người chống lại sự mắt mát về vật chất”. [3] Theo Giancarlo Perone thì "Bảo hiểm xã hội là một hệ thống bao gồm những lợi ích và địch vụ cung cấp cho công dân khi cần thiết, bất kể công dân đó làm công việc gì”. [14] Theo Công ước 102 của Tổ chức lao động quóc tế, “Bảo hiểm xã hội sự bảo đảm an toàn của xã hội dành cho thành viên của nó thông qua các quy trình của hệ thống công cộng, nhằm giải toả những lo âu về kinh tế và xã hội cho thành viên. Nói cách khác, nó góp phần giúp các thành viên trong xã hội và gia đình khắc phục sự suy giảm hoặc mắt nguồn thu nhập thực tế do ốm.
đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hưu trí, và tử 11 tuất; đồng thời cung cấp về dịch vụ y tế, trợ cấp gia đình có con nhỏ”. [1] Luật BHXH 2015 [9] của nước Cộng hỏa dân chủ nhân dân Lào giải thích thuật ngữ Bảo hiểm xã hội như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bi dap một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mắt thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ Bảo hiểm xã hội ”. Tóm lại có thể hiểu: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bi dip một phần thu nhập của người lao động (NLĐ) khi họ bị giảm hoặc mắt thu nhập. do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp (TNLĐ - BNN), thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quy BHXH.
Đặc điểm cơ bản của Bảo hiém xã hội Từ việc nghiên cứu các khái niệm về BHXH trên, có thẻ đưa ra những đặc điểm cơ bản của BHXH như sau: - Quy tai chính tập trung được hình thành (nguồn thu quỹ BHXH) thông qua sự đóng góp của các bên tham gia BHXH: Người lao động, người sử dụng lao động, tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ và có sự hỗ trợ của Nhà nước, có thể được hình thành từ các nguồn thu hợp pháp khác (nguồn này ở Lào không đáng kể và hầu như không có). - Việc tham gia BHXH về nguyên tắc là bắt buộc đối với mọi người lao. động làm công ăn lương trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, dưới sự điều chỉnh quan hệ XH theo Luật BHXH.