phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn đƣợc cấu trúc bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc và công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội ở các doanh nghiệp; Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012-2016; Chƣơng 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ, BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở CÁC DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc 1. Lịch sử ra đời, khái niệm về BHXH và BHXH bắt buộc 1.
Sự ra đời của Bảo hiểm xã hội Trong quá trình sinh tồn con ngƣời phải lao động để làm ra của cải vật chất, để thoả mãn những nhu cầu thiết yếu nhất là ăn, mặc, đi lại, sinh sống v. Tuy nhiên, không phải lúc nào con ngƣời cũng gặp thuận lợi và có đầy đủ thu nhập cùng điều kiện sinh sống ổn định. Cùng đó có rất nhiều trƣờng hợp con ngƣời gặp khó khăn, rủi ro xảy đến do điều kiện tự nhiên, khách quan nhƣ: ốm đau, tai nạn, mất việc làm, già yếu, không có khả năng lao động, tử vong. Bởi vậy, từ xa xƣa con ngƣời đã có ý thức san sẻ, cƣu mang, giúp đỡ lẫn nhau.
Sự tƣơng trợ cộng đồng dần dần mở rộng và phát triển dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ: lập quỹ tƣơng tế, hội đoàn bằng tiền hoặc bằng hiện vật để trợ giúp lẫn nhau. Ban đầu, sự trợ giúp này là thụ động, không ổn định và không chắc chắn. Trong quá trình phát triển công nghiệp, đội ngũ làm công ăn lƣơng tăng nhanh, cuộc sống của họ phụ thuộc vào thu nhập do lao động làm thuê mang lại. Chính vì thế, mất việc làm hoặc gặp rủi ro nhƣ ốm đau, bệnh tật đã trở thành mối đe dọa khủng khiếp đối với họ.
Bảo hiểm xã hội sinh ra nhƣ một tấm lƣới che chở cũng nhƣ giúp đỡ cuộc sống của con ngƣời, để họ không bị rơi xuống ''đáy'' đời sống xã hội Trƣớc sức ép đó của ngƣời lao động và để duy trì lực lƣợng làm công ăn lƣơng, giới chủ buộc phải từng bƣớc cam kết đảm bảo cho ngƣời lao động có 6 một khoản thu nhập nhất định gọi là trợ cấp để họ trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi gặp rủi ro. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội. Do vậy, Nhà nƣớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng để hỗ trợ một phần khi không có việc làm, ốm đau, tai nạn. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung có sự quản lý giám sát của Nhà nƣớc.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tƣ bản. Kết quả này đã đƣợc các nƣớc trên thế giới ghi nhận và đều cố gắng xây dựng cho mình một hệ thống BHXH phù hợp. Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên đƣợc thế giới quan niệm là BHXH đối với ngƣời lao động. Nhƣ vậy, BHXH ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi quốc gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết tham gia BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu không thể thiếu của ngƣời lao động.
Khái niệm về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc Khi chƣa có Luật BHXH, khái niệm về BHXH đƣợc tiếp cận dƣới những góc độ khác nhau: - Dƣới góc độ chính sách: BHXH là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo ngƣời lao động và bảo vệ sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia. - Dƣới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nƣớc để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và Nhà nƣớc; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội. 7 - Dƣới góc độ tài chính: BHXH là một quỹ tài chính tập trung, đƣợc hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nƣớc. - Dƣới góc độ thu nhập: BHXH là sự bảo đảm thay thế một phần thu nhập khi ngƣời lao động có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập.
- Theo Bộ luật Lao động: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngƣời lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của ngƣời lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Khái niệm về BHXH đƣợc khái quát một cách cao nhất, đầy đủ nhất khi có Luật BHXH, đó là [14,tr.2]: “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngƣời lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nƣớc theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho ngƣời lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.” Qua khái niệm trên, có thể rút ra một số điểm cơ bản sau: - Đối tƣợng của BHXH chính là phần thu nhập của ngƣời lao động bị biến động, giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động do các biến cố nhƣ đã nêu trên từ đó để giúp ổ định cuộc sống của bản thân ngƣời lao động và gia đình họ. Chính vì yếu tố này mà BHXH đƣợc coi là một chính sách lớn của mỗi quốc gia và đƣợc Nhà nƣớc quan tâm quản lí chặt chẽ. Cũng tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi nƣớc mà các quy định về đối tƣợng này là có sự khác nhau nhƣng cùng bảo đảm ổn đình đời sống của ngƣời lao động.
8 - Đối tƣợng tham gia BHXH là gồm ngƣời lao động và cả ngƣời sử dụng lao động. Sở dĩ ngƣời lao động phải đóng phí vì chính họ là đối tƣợng đƣợc hƣởng BHXH khi gặp rủi ro. Ngƣời sử dụng lao động đóng phí là thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của họ đối với ngƣời lao động. Và sự đóng góp trên là bắt buộc, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của Nhà nƣớc.
- Để điều hoà mâu thuẫn giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, để gắn bó lợi ích giữa họ, Nhà nƣớc đã đứng ra yêu cầu cả hai bên cùng đóng góp và đây cũng là chính sách xã hội đƣợc thực hiện góp phần ổn định cuộc sống một cách hiệu quả nhất. Dựa vào bản chất và chức năng của BHXH mà Tổ chức Lao động Quốc tế ( ILO) cũng đã đƣa ra một định nghĩa khác nhƣ sau: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính phủ) để chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm mất thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết. Hơn nữa, BHXH còn phải bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết.” Từ định nghĩa trên chúng ta thấy mục tiêu của BHXH là hƣớng tới sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội. BHXH thể hiện sự đảm bảo lợi ích của xã hội đối với mỗi thành viên từ đó gắn kết mỗi cá nhân với xã hội đó.
Trong đó BHXH bao gồm : BHXH tự nguyện: Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà ngƣời lao động tự nguyện tham gia, đƣợc lựa chọn mức đóng và phƣơng thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hƣởng bảo hiểm xã hội [14,tr. BHXH bắt buộc : Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia [14,tr. - Bảo hiểm y tế: là hình thức bảo hiểm đƣợc áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nƣớc tổ chức thực hiện và các đối tƣợng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật 9 BHYT [13,tr. Luật BHYT không áp dụng đối với BHYT mang tính kinh doanh.
Bảo hiểm y tế đƣợc thực hiện theo 05 nguyên tắc sau [13,tr.4-8]: + Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những ngƣời tham gia BHYT. + Mức đóng BHYT đƣợc xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lƣơng, tiền công, tiền lƣơng hƣu, tiền trợ cấp hoặc mức lƣơng tối thiểu của khu vực hành chính. + Mức hƣởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tƣợng trong phạm vi quyền lợi của ngƣời tham gia BHYT. + Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do quỹ BHYT và ngƣời tham gia BHYT cùng chi trả.
+ Quỹ BHYT đƣợc quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ. - Bảo hiểm thất nghiệp là biện pháp để giải quyết tình trạng thất nghiệp, nhằm trợ giúp kịp thời cho những ngƣời thất nghiệp trong thời gian chƣa tìm đƣợc việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới [12,tr.