ĐẶT VẤN ĐỀ Theo định nghĩa của Bộ Y tế Việt Nam, cúm mùa là bệnh nhiễm trùng hô hấp cấp tính do virus cúm gây nên [2]. Triệu chứng của bệnh cúm mùa bao gồm sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho, ho thƣờng nặng và kéo dài. Ở các vùng ôn đới, dịch cúm thƣờng xảy ra vào mùa lạnh. Ở các vùng nhiệt đới, bệnh thƣờng xảy ra vào mùa mƣa hoặc các trƣờng hợp tản phát xảy ra bất kỳ tháng nào trong năm [9], [7].
Tại Việt Nam, các vi rút gây bệnh cúm mùa thƣờng gặp là cúm A/H1N1, cúm A/H3N2 và cúm B [22]. Bệnh cúm mùa có tính chất ngày càng nghiêm trọng bởi sự biến chủng nguy hiểm và tiềm tàng của vi rút cúm [3]. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 20 - 30% trẻ em và 5 - 10% ngƣời lớn mắc bệnh cúm mùa; trung bình các vụ dịch cúm gây bệnh cho khoảng 500 - 800 triệu ngƣời/năm, trong đó khoảng 5 triệu trƣờng hợp bị bệnh cúm nặng và 250.000 trƣờng hợp tử vong [18]. Nhân viên y tế (NVYT) là đối tƣợng có nguy cơ mắc bệnh cúm cao.
NVYT là một trong những mắt xích liên quan đến việc lây truyền vi rút cúm mùa sang nhóm bệnh nhân nguy cơ cao mà đƣợc họ chăm sóc và điều trị. Thêm vào đó, việc tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân mắc bệnh cúm mùa cũng làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh đối với NVYT [26]. Tiêm chủng vắc xin cúm theo mùa vụ (theo năm), thƣờng gọi là vắc xin cúm mùa là một trong những biện pháp quan trọng để ngăn ngừa bệnh cúm mùa. Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) khuyến cáo NVYT là một trong những nhóm nguy cơ cao cần đƣợc tiêm chủng vắc xin cúm [34].
Nhân viên y tế cũng là đối tƣợng hàng đầu nên đƣợc tiêm vắc xin cúm hàng năm theo hƣớng dẫn của Bộ Y tế về chẩn đoán và điều trị cúm mùa [2]. Vắc xin cúm là an toàn và có hiệu quả phòng các thể nhẹ và nặng của cúm, hiệu lực bảo vệ của vắc xin là tƣơng đối cao 70 - 90% [33]. Việc sử dụng vắc xin cúm là biện pháp dự phòng hiệu quả làm giảm 89% nguy cơ lây nhiễm cúm ở ngƣời khỏe mạnh, giảm 73,16% nguy cơ mắc cúm, 78% số ngày nghỉ việc ở những ngƣời có độ tuổi làm việc, giảm 57% nguy cơ nhập viện và 67% nguy cơ tử vong ở tuổi già, giảm 85% nguy cơ bị hội chứng cúm và giảm 41% nguy 2 cơ nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em, giảm 67% nguy cơ nhồi máu cơ tim tái phát, 54% nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân tim mạch, 75% nguy cơ nhập viện và 25 – 75% nguy cơ tử vong ở bệnh nhân đái tháo đƣờng [5]. Tại Việt Nam, ngày 23/6/2011, Bộ Y tế phê duyệt Quyết định số 2078/QĐ-BYT về việc ban hành hƣớng dẫn chẩn đoán và điều trị cúm mùa, trong đó khuyến cáo NVYT nên tiêm phòng vắc xin cúm mùa hàng năm [2].
Ngày 06/6/2013, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 1950/QĐ – BYT về kế hoạch phát triển và sử dụng vắc xin cúm giai đoạn 2013 – 2020, tầm nhìn đến 2030 trong đó nêu rõ định hƣớng đến năm 2021 “Xem xét đƣa vắc xin cúm mùa vào tiêm chủng mở rộng cho nhóm đối tƣợng nguy cơ cao” trong đó có NVYT [4]. Ngoài ra, Bộ Y tế cũng đã quy định cúm là bệnh truyền nhiễm bắt buộc phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế đối với ngƣời có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm tại vùng có dịch hoặc đến vùng có dịch [3]. Tuy nhiên, tại Việt Nam đến nay chƣa có một nghiên cứu nào nghiên cứu tình trạng tiêm vắc xin cúm của NVYT hoặc tƣơng tự. Quận Đống Đa là một trong những Quận nội thành Hà Nội với nhiều trƣờng đại học, cao đẳng, công trƣờng xây dựng, mật độ dân cƣ cao, ngƣời ngoại tỉnh tạm trú, thuê trọ nhiều.
Quận đang trong quá trình đô thị hóa, hạ tầng cơ sở kỹ thuật chƣa đồng bộ, vệ sinh môi trƣờng không đảm bảo. Đó là những yếu tố tiềm ẩn nhiều nguy cơ phát sinh dịch bệnh nói chung và bệnh cúm mùa nói riêng. Thêm vào đó, việc thống kê báo cáo tình hình bệnh cúm tại địa phƣơng chƣa đƣợc thực hiện đúng và đầy đủ, chƣa phản ánh đƣợc tình hình bệnh cúm tại địa phƣơng. Do đó, việc áp dụng các biện pháp dự phòng nhƣ tiêm vắc xin cần đƣợc triển khai để kiểm soát bệnh cúm.
Để đánh giá thực trạng sử dụng vắc xin cúm mùa của NVYT Quận Đống Đa, xác định các yếu tố liên quan để chuẩn bị triển khai kế hoạch phát triển và sử dụng vắc xin cúm giai đoạn 2013 – 2020, tầm nhìn đến 2030, chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng tiêm vắc xin cúm mùa của NVYT tại Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội năm 2014 và một số yếu tố liên quan”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng tiêm vắc xin cúm mùa của nhân viên y tế tại Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội năm 2014. Mô tả một số yếu tố liên quan đến việc tiêm vắc xin cúm mùa của nhân viên y tế tại Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội năm 2014.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm bệnh cúm mùa ở ngƣời 1. Định nghĩa ca bệnh Bệnh cúm mùa là bệnh nhiễm vi rút cấp tính đƣờng hô hấp với biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho. Ho thƣờng nặng và kéo dài. Có thể kèm theo các triệu chứng đƣờng tiêu hóa (buồn nôn, nôn, ỉa chảy), đặc biệt ở trẻ em.
Thông thƣờng bệnh diễn biến nhẹ và hồi phục trong vòng 2 - 7 ngày. Ở trẻ em và ngƣời lớn tuổi, ngƣời mắc bệnh mạn tính về tim phổi, thận, bệnh chuyển hóa, thiếu máu hoặc ngƣời có suy giảm miễn dịch, bệnh có thể diễn biến nặng hơn nhƣ viêm tai, viêm phế quản, viêm phổi, viêm não có thể dẫn đến tử vong [1], [9]. Tác nhân gây bệnh Vi rút cúm (Influenza virus) thuộc nhóm Orthomyxoviridae và đƣợc chia thành 3 týp A, B và C. Vỏ của vi rút bản chất là glycoprotein bao gồm 2 kháng nguyên: Kháng nguyên ngƣng kết hồng cầu H (Hemaglutinin) và kháng nguyên trung hoà N (Neuraminidase) [1].
Có 15 loại kháng nguyên H (H1 - H15) và 9 loại kháng nguyên N (N1 - N9). Những cách tổ hợp khác nhau của hai loại kháng nguyên này tạo nên các phân týp khác nhau của vi rút cúm A. Trong quá trình lƣu hành của vi rút cúm A, 2 kháng nguyên này, nhất là kháng nguyên H, luôn luôn biến đổi. Những biến đổi nhỏ liên tục gọi là “trôi” kháng nguyên (antigenic drift) thƣờng gây nên các vụ dịch vừa và nhỏ.
Những biến đổi nhỏ dần dần tích lại thành những biến đổi lớn, tạo nên phân týp kháng nguyên mới gọi là “thay đổi” kháng nguyên (antigenic shift). Đó là do sự tái tổ hợp giữa các chủng vi rút cúm động vật và cúm ngƣời. Những phân týp kháng nguyên mới này sẽ gây đại dịch cúm trên toàn cầu. Các virus gây bệnh cúm mùa thƣờng gặp tại Việt Nam là cúm A/H3N2, A/H1N1 và cúm B [1].
Vi rút cúm có thể tồn tại hàng giờ ở ngoại cảnh, đặc biệt khi thời tiết lạnh và độ ẩm thấp. Ở nhiệt độ 0 độ C đến 4 độ C sống đƣợc vài tuần, ở -20 độ C và đông khô sống đƣợc hàng năm [1]. Đặc điểm dịch tễ học Bệnh cúm mùa nguy hiểm là do tính lây lan nhanh và gây thành dịch. Bệnh có thể xảy ra dƣới nhiều mức độ khác nhau: đại dịch, dịch, dịch nhỏ địa phƣơng và các trƣờng hợp tản phát.
Tỷ lệ mắc bệnh cúm là 5 - 10% ở ngƣời lớn và 20 - 30% ở trẻ em. Trong các vụ dịch cúm hàng năm, 5 - 15% dân số bị nhiễm khuẩn đƣờng hô hấp trên. Tỷ lệ mắc bệnh nặng và tử vong cao ở nhóm trẻ dƣới 2 tuổi, ngƣời già và nhóm nguy cơ cao. Ở các vùng ôn đới, dịch cúm thƣờng xảy ra vào mùa lạnh.
Ở các vùng nhiệt đới, bệnh thƣờng xảy ra vào mùa mƣa hoặc các trƣờng hợp tản phát xảy ra bất kỳ tháng nào trong năm [1]. Bệnh cúm mùa có những đặc điểm khác biệt với cảm lạnh nhƣ sau. Cúm mùa thƣờng sốt cao và kéo dài từ 3 – 4 ngày, đau đầu, suy nhƣợc có thể kéo dài từ 2 – 3 tuần, đau cơ, kiệt sức, ho, đôi khi đau họng và nghẹt mũi, biến chứng thƣờng gặp là viêm phế quản, viêm phổi và có nguy cơ tử vong nếu bị nặng. Đối với bệnh cảm lạnh không thƣờng xuyên xảy ra sốt, nhức đầu, suy nhƣợc và đau cơ nhẹ, không gây kiệt sức, thƣờng gặp nghẹt mũi và đau họng, ho không thƣờng xuyên và biến chứng của bệnh là viêm xoang [13].
Nguồn truyền nhiễm Vi rút cúm A có khả năng gây nhiễm các loài động vật có vú (nhƣ lợn và ngựa), các loài chim và gia cầm. Trong đó, vi rút cúm B và C chỉ gây bệnh ở ngƣời. Tất cả các týp vi rút cúm A tồn tại trong quần thể chim nƣớc hoang dại. Nhìn chung, các vi rút cúm động vật không có khả năng gây bệnh cho ngƣời trừ khi nó đã thích ứng với ngƣời hoặc tái tổ hợp với vi rút cúm ngƣời [9].
Đối với bệnh cúm mùa, ngƣời bệnh thể điển hình, hoặc thể nhẹ là ổ chứa vi rút với thời gian ủ bệnh ngắn, thƣờng từ 1 - 5 ngày, trung bình là 2 ngày. Ngƣời bệnh đào thải vi rút khoảng 1 - 2 ngày trƣớc khi khởi phát và 3 - 5 ngày sau khi có triệu chứng lâm sàng. Phƣơng thức lây truyền Bệnh cúm mùa là bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao và lây truyền nhanh, có thể gây dịch và đại dịch. Bệnh lây lan qua đƣờng hô hấp, qua không khí giọt nhỏ 6 qua các giọt nhỏ nƣớc bọt hay dịch tiết mũi họng của bệnh nhân có chứa vi rút cúm qua ho, hắt hơi.
Vi rút vào cơ thể qua đƣờng mũi họng. Tỷ lệ lây lan càng mạnh khi tiếp xúc trực tiếp và mật thiết, đặc biệt ở nơi tập trung đông ngƣời nhƣ trƣờng học, nhà trẻ, bệnh viện. Trong điều kiện thời tiết lạnh và ẩm thấp, tế bào đƣờng hô hấp của ngƣời dễ bị tổn thƣơng, làm tăng tính cảm nhiễm với bệnh [9]. Gánh nặng bệnh tật của cúm: Hàng năm, bệnh cúm mùa thƣờng gây 3 - 5 triệu ngƣời bị bệnh nặng và trong đó khoảng 250.000 ngƣời chết [33].