Chương 1: Cơ sở lý luận chung về thu hút vốn dau tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Chương 2: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vao các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 14 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE THU HUT VON ĐẦU TƯ TRUC TIEP NUOC NGOAI VAO CAC KHU CONG NGHIEP TREN DIA BAN TINH VĨNH PHÚC 1. Ban chất và vai trò của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN trên địa bàn cấp tỉnh 1. Một số khái niệm liên quan đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN a) Khái niệm khu công nghiệp Khái niệm về khu công nghiệp được nêu rõ trong nghị định số 82/2018/NĐ-CP.
Theo đó: “Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên thực hiện sản xuất hàng công nghiệp hay những dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất công nghiệp. Các khu công nghiệp được thành lập theo điều kiện, quy định riêng của địa phương, Nhà nước, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục được nêu trong nghị định Nghị định số 82/2018/NĐ- CP”. Tai Khoan 1 Diéu 2 Nghi dinh 35/2022/ND-CP vé quan ly khu cong nghiép va khu kinh tế, khái niệm khu công nghiệp được hiểu như sau: “Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. ” Từ đó ta có thé hiểu: “Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống, được quy hoạch tại những vùng có điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, trong đó, tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp.
Khu công nghiệp do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập và được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh. Các doanh nghiệp hoạt động tập trung trong khu công nghiệp (doanh nghiệp khu công nghiệp) được đảm bảo cơ sở hạ tầng hoàn thiện, được cung ứng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất và các tiện ích công cộng khác với chất lượng cao va được hưởng nhiều ưu đãi trong chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu, sử dụng đất đai. của Nhà nước Việt Nam. 15 b) Khái niệm về đâu tư trực tiêp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức xuất hiện vào thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, sau những cuộc xâm chiếm thuộc địa và trở thành hiện tượng phổ biến khi chủ nghãi tư bản chuyền từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền.I Leenin, quá trình tích tụ và tập trung tư bản trong điều kiện chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã dẫn tới sự hình thành, phát triển và trở thành thống trị của các tổ chức đọc quyên trong nên kinh tế.
Sự thống trị của độc quyền tư bản dưới hình thái tư ban tài hcinhs là cơ sở vững chắc cho việc thu lợi nhuận độc quyền cao, trở thành điều kiện quan trọng cho sự lớn lên của tư bản, và sự xuất hiện tình trạng “tư bản thừa” như là một tất yếu. Từ đó FDI với tư cách là xuất khâu tư bản trực tiếp cũng trở thành tất yếu phổ biến. Ban đầu, đối với từng nhà tư bản, FDI hướng tới sử dụng nguồn lao dộng tại chỗ dé khai thác khoáng an, đồn điền nhằm tao ra nguồn nguyên liệu cung cấp cho các ngành sản xuất ở chính quốc. Đối với chủ nghĩa tư bản, FDI chính là một phương thức tìm kiếm, khai thác các yếu tố cần thiết, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của nên sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Cùng với xu hướng toàn câu hóa, dòng vôn đâu tư trực tiêp nước ngoài đã và đang ngày càng trở nên phô biên trên thê giới. Theo đó đã có nhiêu quan điêm đưa ra nhằm định nghĩa cho hành vi này: Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quan lý thực sự doanh nghiệp. Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì FDI được thực hiện nhằm thiết lập các mỗi quan hệ kinh tế lâu dai với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quan lý của chủ dau tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; và (iv) cấp tín dụng dài hạn (>5 năm). 16 Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì FDI được thực hiện nhằm thiết lập các mỗi quan hệ kinh tế lâu dai với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ dau tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; va (iv) cấp tin dụng dai hạn (>5 năm).
Theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương Mai và Phát triển (UNCTAD): FDI là một hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát lâu dài bởi một thực thé (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) của một đất nước trong một doanh nghiệp (chi nhánh ở nước ngoài) ở một nước khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế ấy. Định nghĩa này không cho chúng ta biết chính xác một việc đâu tư là gì. Khái niệm của các tô chức nói trên, về cơ bản là thống nhất với nhau về mối quan hệ, vai trò và lợi ích của nhà đầu tư và thời gian trong hoạt động FDI.
Qua đó, từ những khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu khái quát về FDI như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia đó để được quyền sở hữu và quản lý hay quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình. Hoạt động FDI được thông qua được gọi là dự án FDI.” c, Ban chất của đầu tư trực tiếp nuoc ngoài. Đối với nhà đầu tư: Hoạt động đầu tư FDI là hình thức duy trì và nâng cao hiệu quả sản xuất của chủ đầu tư, tìm kiếm lợi nhuận; khai thác nguồn lực và xâm nhập thị trường của nước nhận đầu tư; thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp dé thực hiện các ý đồ kinh tế hoặc phí kinh tế mà các hoạt động khác không thực hiện được. Đối với nước nhận đầu tư: Hoạt động FDI thực chất là hoạt động thu hút vốn FDI do đó đây chính là hình thức lôi kéo hoặc tiếp nhận vốn FDI khi nhà đàu tư tìm đến thực hiện đầu tư.
Tại Việt Nam, vốn FDI đóng vai trò là nguồn vốn bố sung, là điều kiện cần thiết cho sự chuyền biến tích cực của một lĩnh vực sản xuất kinh doanh, một số ngành nghé và là chất xúc tác làm phát huy tính hiệu quả của các tiền năng phát triển. 17 d) Khái niệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN là một hình thức đầu tư, trong đó nhà đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay một phần vốn đầu tư đủ lớn nhằm giành quyền quản lý, kiểm soát hoặc tham gia quản lý kiểm soát doanh nghiệp ở nước chủ nhà, mà các doanh nghiệp này là trung tâm thực hiện nhiệm vụ sản xuất công nghệ và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp, nằm trong KCN khu vực có ranh giới địa lý xác định. Trong đó, nước kêu gọi đầu tư sử dụng các cách thức, biện pháp, chính sách dé nước ngoài dau tư vào nước mình. Chúng ta có thể hiểu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là quá trình thực hiện đồng bộ các biện pháp, chính sách các cơ quan chức năng nhằm tạo nên một môi trường kinh doanh có tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài, từ đó thúc đây hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư vào các KCN thông qua các hình thức đầu tư như một phan hay toàn bộ vốn dau tư đủ lớn nhằm giành quyền quan lý, kiểm soát hoặc tham gia quản lý, kiểm soát doanh nghiệp ở nước chủ nhà.
Đặc điểm của thu hút đầu tư trực tiếp nơJớc ngoài vào các KCN Thứ nhất, mục đích hàng đâu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận, hoạt động kinh doanh đạt được lợi nhuận cao nhất có thể. Trong khi các hình thức đầu tư gián tiếp thu được lợi tức tài chính ổn định, nguồn thu của nhà đầu tư hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ đầu tư vốn, vì vậy thu nhập mà chủ đầu tư nhận được là thu nhập từ kinh doanh và kém ổn định hơn. Xét về mặt tích cực, nhà đầu tư được tự chủ hoàn toàn trong hoạt động kinh doanh của mình, toàn quyên ra quyết định về tài chính và chịu trách nhiệm lãi, lỗ với khoản đầu tư. Đó chính là động lực thúc đây các nhà đầu tư tập trung đưa ra những quyết định phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và cũng là lý do các dự án FDI thường đạt được hiệu quả kinh doanh cao hơn so với các hình thức đầu tư khác.
Thứ hai, FDI không dé lại gánh nặng nợ nan cho Chính phủ nước tiếp nhận dau tư. Khi thực hiện hình thức FDI, các nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh, làm ăn lâu dài ở nước sở tại, hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư. Nước tiếp nhận FDI không phải chịu những 18 điều kiện ràng buộc kèm theo của người cung ứng vốn như tiếp nhận ODA hay các hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay thương mại, viện trợ không hoàn lại,.