Chương 1 trình bày bối cảnh, thực trạng về quá trình CNH và dòng vốn FDI tại các quốc gia ASEAN để đưa ra lý do chọn đề tài nghiên cứu. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu trình bày mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học và gợi ý chính sách trong thực tế. 123doc 6 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.
Công nghiệp hóa Công nghiệp hóa là quá trình thay đổi kinh tế và xã hội theo hướng chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp thành xã hội công nghiệp. Điều này liên quan đến việc tái tổ chức rộng rãi một nền kinh tế cho mục đích sản xuất công nghiệp (O'Sullivan & ctg, 2003). Những quốc gia đã hoàn thành CNH gọi là các nước công nghiệp. Hiểu một cách khái quát, CNH là quá trình nâng cao tỷ trọng của lĩnh vực công nghiệp trong toàn bộ ngành kinh tế của một vùng kinh tế, hay một nền kinh tế.
Do đó, CNH không chỉ tồn tại trong ngành sản xuất công nghiệp mà còn xuất hiện trong các lĩnh vực, ngành kinh tế khác như nông nghiệp, dịch vụ. Tuy nhiên, trong phạm vi bài nghiên cứu này, CNH được giới hạn trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc đo lường biến đại diện và thảo luận kết quả nghiên cứu. Mức độ CNH có thể được xác định bằng sự tăng lên của tỷ trọng GDP trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên tổng giá trị GDP của mỗi quốc gia (Gui-Diby, 2015). Theo đó, mức độ CNH càng cao dẫn đến tăng trưởng nhanh chóng hơn trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp khi so sánh với các lĩnh vực khác.
Một khía cạnh khác, mức độ CNH được đo lường thông qua sự tăng lên của tỷ trọng số lượng lao động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp trong tổng số lượng lao động của mỗi quốc gia. Lao động thủ công cá nhân thông thường được thay thế bằng dây chuyền sản xuất hàng loạt, cơ giới hóa, và thợ thủ công được thay thế bằng dây chuyền lắp ráp (Gui-Diby, 2015). Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài 2. Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập các cơ sở sản xuất kinh doanh cho riêng mình, nắm quyền quản lý, khai thác hoặc thuê người quản lý; hoặc hợp tác với đối tác nước sở tại thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh; tham gia quản lý; cùng nhau chia sẻ lợi nhuận và rủi ro (Bhattacharyya, 2012).
Vai trò của FDI 2. Đối với quốc gia chủ đầu tư Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể đem lại lợi nhuận cao hơn thị trường nội địa của các quốc gia đầu tư. Do các nước đầu tư sẽ có lợi từ nguồn nguyên liệu đầu vào giá thành thấp; giá nhân công, lao động thấp từ quốc gia nhận đầu tư. Bên cạnh đó, quốc gia chủ đầu tư thường sẽ nhận được những ưu đãi về chính sách đầu tư, thuế quan, miễn giảm rào cản kỹ thuật đối với một số ngành nhất định (Hans & ctg, 2002).
Đối với quốc gia nhận đầu tư FDI bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế: Khi nguồn vốn trong nước không đủ, nền kinh tế sẽ cần nguồn vốn từ đầu tư nước ngoài để duy trì tốc độ tăng trưởng, trong đó có FDI (Blomstrom, 1986). Vì FDI dựa trên quan điểm thị trường trong dài hạn, về triển vọng tăng trưởng và không tạo ra nợ cho chính phủ của quốc gia tiếp nhận đầu tư; do đó, FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển mà còn là một dòng vốn ổn định hơn so với các dòng vốn đầu tư quốc tế khác. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và giảm tỷ lệ thất nghiệp: Mục đích chính của FDI là khai thác các điều kiện sản xuất với chi phí thấp, thu được lợi nhuận tối đa. Vì vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê nguồn lao động từ các nước nhận đầu tư (Kind & Ismail, 2001).
Theo đó, các công ty này sẽ đào tạo chuyên môn, quy trình làm việc chuyên nghiệp đối với nguồn lao động tại địa phương. Không chỉ có lao động thông thường, các nhân viên có chuyên môn cao cũng có cơ hội làm việc và nâng cao trình độ khi tiếp cận công nghệ kỹ thuật tiên tiến và kỹ năng quản lý chuyên nghiệp. FDI giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu: Nhờ vào dòng vốn FDI, các nước tiếp nhận đầu tư có cơ hội vươn xa và tiếp cận với thị trường quốc tế thông qua việc xuất khẩu hàng hóa (Brainard, 1997). Các nước đang phát triển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí có thể cạnh tranh được nhưng rất khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế.
Trong khi đó, nếu tiếp nhận FDI từ các 123doc 8 MNCs thì hoạt động kinh doanh đều do các MNCs thực hiện dựa vào vị thế cũng như uy tín vốn có của họ. Điều này giúp cho việc xuất khẩu của các nước tiếp nhận đầu tư được thực hiện dễ dàng hơn. FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế: FDI liên quan đến hoạt động kinh tế đối ngoại và nhờ có FDI các quốc gia liên kết với nhau. Điều này đòi hỏi các quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế phù hợp với môi trường quốc tế.
Nhờ dòng vốn FDI thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư (Blomstrom, 1986). FDI là nguồn thu ngân sách: Nguồn thuế, phí thu từ MNCs góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách của các quốc gia. Tuy nhiên, không ít các doanh nghiệp lợi dụng sự ưu đãi chính sách thuế cũng như hệ thống luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư còn lỏng lẻo, đã chuyển chuyển giá và trốn thuế. Điều này, gây thất thoát và ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế của nước tiếp nhận nguồn đầu tư (Brainard, 1997).
Nguồn gốc hình thành FDI Để hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài trước tiên phải hiểu những động lực cơ bản khiến một công ty phải đầu tư ra nước ngoài thay vì tập trung phát triển sản xuất kinh doanh trong nước. Mặc dù một số nhà nghiên cứu đã cố gắng giải thích hiện tượng FDI, đến nay vẫn chưa có một lý thuyết chung nào được tất cả thừa nhận; mỗi bằng chứng lại góp thêm một số yếu tố mới và phản biện những quan điểm trước đó. Caves (1996) cho rằng nỗ lực của các quốc gia trong việc thu hút dòng vốn FDI đến từ những ảnh hưởng tích cực tiềm năng trong việc tạo ra thêm việc làm cho người lao động, lan tỏa công nghệ. FDI là cách để đạt được sự lan tỏa công nghệ, với sự đóng góp lớn hơn cho tăng trưởng kinh tế hơn so với đầu tư công của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng FDI có thể lấn át các doanh nghiệp địa phương và có tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế. Lipsey (2002) kết luận rằng dòng vốn FDI gây ra những tác động tiêu cực và không có bằng chứng cho thấy tác động của FDI và tăng trưởng kinh tế. Theo đó, 123doc 9 trong một thế giới cạnh tranh hoàn hảo, FDI sẽ không còn tồn tại. Do đó, nếu thị trường hoạt động hiệu quả và không có rào cản về thương mại hoặc cạnh tranh, thương mại quốc tế là cách duy nhất để tham gia thị trường quốc tế.
Phải có một hình thức nào đó khiến cho thị trường bị méo mó. Ông tin rằng các công ty địa phương sẽ luôn có thông tin tốt hơn về môi trường kinh tế địa phương, và để cho đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra, phải có hai điều kiện cần thiết đó là MNCs phải có những lợi thế nhất định cho phép họ đầu tư khả thi và thị trường phải không hoàn hảo. Các nghiên cứu trước đây về tác động của FDI đến công nghiệp hóa Tác động của dòng vốn FDI đối với CNH có thể được thể hiện qua hai phương thức: Tác động trực tiếp và tác động gián tiếp của FDI đối với CNH. Cụ thể, tác động của FDI đối với sự dịch chuyển cơ cấu ngành kinh tế sẽ là một sự tác động trực tiếp, nhưng tác động của FDI đối với sự chuyển dịch về công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp nội địa là một sự tác động gián tiếp.
Bên cạnh đó, những can thiệp của chính phủ của quốc gia tiếp nhận đầu tư đóng vai trò quan trọng đối với tác động của FDI và CNH. Tác động trực tiếp của FDI đối với công nghiệp hóa Tác động trực tiếp của FDI đối với CNH nền kinh tế được thể hiện qua tác động của các MNCs khi tham gia vào thị trường nội địa. Theo đó, tác động trực tiếp của MNCs bao gồm hai tác động chính bao gồm tác động cạnh tranh và tác động liên kết. Trong đó, tác động cạnh tranh của MNCs với doanh nghiệp nội địa phụ thuộc vào quy mô thị trường và có thể dẫn đến sụt giảm năng lực sản xuất của các công ty nội địa.
Tác động liên kết thể hiện qua sự kết nối giữa MNCs và các công ty cung ứng nội địa. Hai nghiên cứu chính làm nền tảng cơ sở cho tác động trực tiếp của dòng vốn FDI đối với CNH là Rodrıguez-Clare (1996) và Markusen & Venables (1999). Nghiên cứu của Rodrıguez-Clare (1996) khám phá các công ty hoặc tập đoàn đa quốc gia tác động đến các quốc gia, khu vực kém phát triển thông qua việc tạo thành tác động liên kết như thế nào. Cụ thể, tác động liên kết của MNCs đối với 123doc 10 quốc gia nhận đầu tư có thể phụ thuộc vào chi phí kết nối giữa trụ sở chính và các nhà máy sản xuất, sự phức tạp của quá trình sản xuất và mức độ phát triển của nước nhận đầu tư.
Kết quả nghiên cho thấy tác động liên kết chỉ mạnh hơn khi chi phí kết nối giữa trụ sở chính và cơ sở sản xuất cao hơn. Do đó, các quốc gia nhận đầu tư thường mong muốn các MNCs tạo những tác động liên kết mạnh hơn thông qua vị trí địa lý xa hơn, cùng với sự khác biệt về văn hóa, xã hội và hệ thống luật pháp. Nghiên cứu của Markusen & Venables (1999) phân tích tác động của dòng vốn FDI đối với các công ty nội địa thông qua tác động cạnh tranh và liên kết.