Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. 6 Chương 2: Thực trạng chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm về đầu tư Đầu tư là việc sử dụng vốn vào quá trình sản xuất xã hội nhằm tạo ra năng lực vốn lớn hơn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Trên bình diện doanh nghiệp, đầu tư là việc di chuyển vốn vào một hoạt động nào đó nhằm mục đích thu lại một khoản tiền lớn hơn. Theo Điều 3 Luật Đầu tư được Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12.2015 thì “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.” Hoạt động đầu tư được phân loại theo những tiêu chí khác nhau tùy theo mục đích của việc phân loại đầu tư: + Phân loại đầu tư theo tính chất của đầu tư có: hoạt động đầu tư có phát triển; hoạt động đầu tư chuyển dịch mà không làm thay đổi giá trị của nó.
+ Phân loại theo hình thức sở hữu vốn có: đầu tư của nhà nước, đầu tư của tư nhân, đầu tư của các tổ chức tài chính. + Phân loại theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư có: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Khái niệm về đầu tư nước ngoài Đầu tư nước ngoài (đầu tư quốc tế) là một hình thức của đầu tư, đó là xuất khẩu tư bản, đưa tư bản ra nước ngoài kinh doanh, một hình thức quan hệ kinh tế, qua đó tư bản của nước này di chuyển sang nước khác nhằm mục đích trực tiếp kinh doanh thulợi nhuận. Ngoài ra còn có các hình thức viện trợ, cho vay, viện trợ không hoàn lại, không nhằm mục đích kinh doanh.
8 Đầu tư quốc tế chủ yếu gồm các hình thức: đầu tư một chiều như viện trợ không hoàn lại; đầu tư tín dụng không có lãi hoặc lãi nhẹ, đầu tư có tính chất công như là: đầu tư của chính phủ, đầu tư của các tổ chức Quốc tế,các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc gia, quốc tế, các tổ chức Phi chính phủ, đầu tư có tính chất tư là đầu tư của các tổ chức tư và tư nhân, đầu tư hỗn hợp có cả tính chất công và tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo quan điểm vĩ mô là chủ đầu tư trực tiếp đưa vốn và kĩ thuật vào nước nhận đầu tư, thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh, trên cơ sở thuê, mướn, khai thác các yếu tố cơ bản ở nước sở tại như là tài nguyên sức lao động, cơ sở vật chất. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo quan điểm vi mô là chủ đầu tư đóng góp một số vốn lớn đủ để họ trực tiếp tham gia vào việc quản lý, điều hành đối tượng bỏ vốn. Đầu tư trực tiếp khác với đầu tư gián tiếp và cho vay tín dụng.
Đầu tư trực tiếp là hình thức mà nước chủ nhà nhận vốn từ nước ngoài vào dưới hình thức vay vốn hoặc nhận viện trợ của một số tổ chức quốc tế hoặc một nước nào đó. Nước sở tại tự sản xuất, kinh doanh, tự tìm nguồn thị trường tiêu thụ và sau một thời gian hoàn trả cả gốc lẫn lãi dưới hình thức tiền tệ hay hàng hóa. Còn hình thức vay tín dụng thì chủ đầu tưnước cho vay nợ) người nhận đầu tư (nước vay nợ) vay vốn trong một thời gian nào đó và hưởng lợi nhuận qua lãi suất cho vay do hai bên thỏa thuận. Cả hai hình thức này, khác với đầu tư trực tiếp ở chỗ là không có sự tham gia quản lý, điều hành trực tiếp của chủ đầu tư đối với đồng vốn của mình.
Vậy khái niệm về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI: Là loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng, hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để trở thành chủ sở hữu toàn bộ hay từng phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài gồm công ty liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. 9 Công ty liên doanh (Join Venture Company) là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài dầu tư 100% vốn tại Việt Nam.
Loại hình này thường đầu tư vào khu chế xuất hặc khu công nghiệp, thời hạn hoạt động kéo dài khoảng 50 đến 70 năm. Vai trò của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1 Đối với nước chủ đầu tư a. Các tác động tích cực – Đầu tư trực tiếp nước ngoài đem lại lợi nhuận cao hơn ở trong nước. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các nhà đầu tư.
Việc đầu tư ra nước ngoài làm cho yêu cầu tương đối về lao động ở trong nước giảm hay năng suất giảm. Ngược lại, tổng lợi nhuận thu được từ đầu tư ra nước ngoài tăng, lợi suất đối với yếu tố lao động giảm và yếu tố tư bản tăng. Như vậy, thu nhập từ việc đầu tư ở nước ngoài có sự tái phân phối thu nhập quốc nội từ lao động thành tư bản. – Đầu tư trực tiếp nước ngoài kích thích việc xuất khẩu trực tiếp thiết bị máy móc.
Đặc biệt là khi đầu tư vào các nước đang phát triển có nền công nghiệp cơ khí lạc hậu hoặc khi các công ty mẹ cung cấp cho các công ty con ở nước ngoài máy móc thiết bị, linh kiện, phụ tùng và nguyên liệu. Nếu công ty của nước đầu tư muốn chiếm lĩnh thị trường thì đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động vào việc xuất khẩu các linh kiện tương quan, các sản phẩm tương quan để tăng tổng kim ngạch xuất khẩu. – Đối với nhập khẩu, nếu các nước đầu tư đầu tư trực tiếp vào ngành khai thác của nước chủ nhà, họ có được nguyên liệu giá rẻ. Trong điều kiện nhập khẩu ngang nhau, họ có thể giảm được giá so với trước đây nhập từ nước khác.
Nếu sử dụng giá 10 lao động rẻ của nước ngoài để sản xuất linh kiện rồi xuất về trong nước để sản xuất thành phẩm, họ có thể giảm được giá thành phẩm mà trước đây họ phải nhập khẩu. Trong dài hạn, việc đầu tư ra nước ngoài sẽ đem lại ảnh hưởng tích cực cho cán cân thanh toán quốc tế của nước đầu tư. Đó là do việc xuất khẩu thiết bị máy móc, nguyên vật liệu… cộng với một phần lợi nhuận được chuyển về nước đã đem ngoại tệ trở lại cho nước đầu tư. Các chuyên gia ước tính thời gian hoàn vốn cho một dòng tư bản trung bình là từ 5 đến 10 năm.
Các tác động tiêu cực – Trước mắt, do sự lưu động vốn ra nước ngoài mà việc đầu tư trực tiếp này lại gây ra ảnh hưởng tiêu cực tạm thời cho cán cân thanh toán quốc tế. Nguyên nhân là do trong năm có đầu tư ra nước ngoài, chi tiêu bên ngoài của nước đầu tư tăng lên và gây ra sự thâm hụt tạm thời trong cán cân thanh toán ngân sách. Vì vậy, nó khiến một số ngành trong nước sẽ không được đầu tư đầy đủ. – Việc xuất khẩu tư bản có nguy cơ tạo ra thất nghiệp ở nước đầu tư.
Hãy xem xét một trong những nguyên nhân mà các nhà tư bản đầu tư ra nước ngoài là nhằm sử dụng lao động không lành nghề, giá rẻ của những nước đang phát triển. Điều này tất yếu làm tăng thất nghiệp cơ cấu trong số lao động không lành nghề của nước đầu tư. Thêm vào đó, nước sở tại lại có thể xuất khẩu sang nước đầu tư hoặc thay cho việc nhập khẩu trước đây từ nước đầu tư, họ tự sản xuất được hàng hoá cho mình càng làm cho nguy cơ thất nghiệp này thêm trầm trọng. Xu hướng giảm mức thuê mướn nhân công ở nước chủ đầu tư và tăng mức thuê công nhân ở nước sở tại dẫn đến sự đối kháng về lao động ở nước đầu tư và quyền lợi lao động ở nước chủ nhà.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư a.
Tác động tích cực - FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế: FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển mà còn là một luồng vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác, bởi FDI dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và không tạo ra nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh hướng thay đổi khi có tình huống bất lợi. 11 - FDI cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển: Có thể nói công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng định rõ. Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên phát triển hàng đầu của mọi quốc gia. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa học – kỹ thuật.
- Đầu tư nước ngoài (đặc biệt là FDI) được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà. Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà. Đây là những mục tiêu quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài.