Tổng quan nghiên cứu

Kháng thuốc kháng sinh đang là một trong những thách thức y tế toàn cầu nghiêm trọng nhất. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm có khoảng 700.000 người tử vong do các bệnh lý nhiễm khuẩn kháng thuốc và con số này có thể tăng vọt lên 10 triệu người vào năm 2050 nếu không có các biện pháp can thiệp quyết liệt. Tại Việt Nam, tình trạng kháng kháng sinh diễn biến phức tạp, đặc biệt là vi khuẩn phế cầu (Streptococcus pneumoniae) với tỷ lệ kháng penicillin lên tới 71,4% và kháng erythromycin đạt 92,1%.

Bệnh viện Phục hồi chức năng Hải Dương là cơ sở y tế chuyên khoa hạng II tuyến tỉnh với quy mô 263 giường bệnh và 236 cán bộ nhân viên. Năm 2021, bệnh viện tiếp nhận 4.168 bệnh nhân điều trị nội trú. Tỷ lệ kinh phí dành cho thuốc kháng sinh nội trú tại bệnh viện liên tục gia tăng qua các năm: từ 13,01% năm 2018 lên 15,18% năm 2019 và đạt 16,35% tổng chi phí thuốc vào năm 2020. Đặc biệt, từ năm 2020, đơn vị thành lập đơn nguyên Bệnh nhân nặng thuộc khoa Lão khoa, nơi tiếp nhận nhiều bệnh nhân cao tuổi mắc đa bệnh lý, trong đó viêm phổi mắc phải ở cộng đồng chiếm tỷ trọng điều trị đáng kể.

Xuất phát từ thực tiễn trên, luận văn được thực hiện nhằm đạt hai mục tiêu chính: mô tả cơ cấu thuốc sử dụng trong điều trị nội trú cho bệnh nhân viêm phổi mắc phải ở cộng đồng năm 2021, đồng thời phân tích chi tiết thực trạng chỉ định kháng sinh theo các phác đồ điều trị. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng giúp Hội đồng Thuốc và Điều trị nâng cao chất lượng kê đơn, hạn chế nguy cơ kháng thuốc và tối ưu hóa chi phí điều trị cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn chuyên môn y tế quốc gia, bao gồm Quyết định số 708/QĐ-BYT năm 2015 của Bộ Y tế về Hướng dẫn sử dụng kháng sinh, Quyết định số 5631/QĐ-BYT năm 2020 về Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện, cùng Thông tư số 21/2013/TT-BYT quy định về hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị.

Các khái niệm trọng tâm trong nghiên cứu gồm:

  • Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng: Tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính của nhu mô phổi xuất hiện ngoài môi trường bệnh viện, đòi hỏi liệu trình điều trị kháng sinh tiêu chuẩn từ 7 đến 10 ngày đối với các ca bệnh không biến chứng và có thể kéo dài 14 ngày khi có tác nhân đặc biệt.
  • Thang điểm CURB-65: Công cụ lượng giá độ nặng gồm 5 tiêu chí lâm sàng (Ý thức, Tần số thở từ 30 lần/phút trở lên, Huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg hoặc tâm trương dưới 60 mmHg, Tuổi từ 65 trở lên). Thang điểm phân tầng bệnh nhân thành 3 mức độ: nhẹ (0-1 điểm), trung bình (2 điểm) và nặng (3-5 điểm) để định hướng nơi điều trị và lựa chọn kháng sinh ban đầu.
  • Hiệu chỉnh liều theo chức năng thận: Đánh giá độ thanh thải creatinin theo công thức Cockcroft-Gault nhằm điều chỉnh mức liều và khoảng cách dùng thuốc phù hợp cho bệnh nhân cao tuổi suy giảm chức năng lọc cầu thận.
  • Các chỉ số quản lý kháng sinh: Liều xác định hàng ngày (DDD), số ngày điều trị (DOT), thời gian điều trị (LOT) và tỷ lệ tuân thủ hướng dẫn điều trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu toàn bộ dữ liệu hồ sơ bệnh án điện tử trong thời gian từ ngày 01/01/2021 đến 31/12/2021 tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Hải Dương. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước lượng một tỷ lệ với mức ý nghĩa thống kê 0,05 (độ tin cậy 95%, hệ số Z = 1,96), sai số tuyệt đối 0,1 và tỷ lệ ước tính 0,5, cho ra quy mô mẫu lý thuyết là 96,04 bệnh án.

Tổng thể nghiên cứu gồm 407 hồ sơ bệnh án có chẩn đoán ra viện theo mã ICD-10 từ J09 đến J18. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu hệ thống ngẫu nhiên với khoảng cách bước nhảy k = 4. Ban đầu, 105 bệnh án được rút ngẫu nhiên, sau khi sàng lọc loại trừ 5 bệnh án do chuyển viện hoặc xuất viện sớm, mẫu nghiên cứu chính thức đạt 100 hồ sơ bệnh án hợp lệ. Phương pháp phân tích dữ liệu trên phần mềm Microsoft Excel 2013 kết hợp phần mềm tra cứu tương tác thuốc chuẩn của Bộ Y tế được lựa chọn vì tính chính xác cao trong việc xử lý các biến số định lượng, tính toán tỷ lệ phần trăm và đối chiếu phác đồ thực tế với hướng dẫn điều trị chuẩn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cơ cấu nhóm thuốc điều trị, nhóm thuốc kháng sinh chiếm vị trí áp đảo với 10 khoản mục (chiếm 23,3% danh mục), 218 lượt kê đơn (chiếm 22,7%) và chiếm tới 81,2% tổng giá trị tiền thuốc điều trị (tương đương 207,33 triệu đồng). Đứng thứ hai là nhóm thuốc tác dụng trên đường hô hấp với 9 khoản mục (chiếm 20,9%) và chiếm 4,9% về giá trị.

Thứ hai, về đặc điểm kháng sinh theo đường dùng và nguồn gốc xuất xứ, thuốc tiêm chiếm tỷ trọng vượt trội với 8 khoản mục (80%), chiếm đến 99,8% tổng giá trị tiền kháng sinh, trong khi thuốc uống chỉ chiếm 2 khoản mục (20%) với 0,2% giá trị, tạo ra mức chênh lệch chi phí gần 500 lần. Về xuất xứ, thuốc kháng sinh nhập khẩu chiếm 40% khoản mục nhưng chiếm 90,8% tổng giá trị sử dụng (188,56 triệu đồng), trong khi thuốc sản xuất trong nước dù chiếm 60% khoản mục nhưng chỉ đóng góp 9,2% giá trị.

Thứ ba, về phân loại cấu trúc hóa học và chỉ định hoạt chất, nhóm Cephalosporin thế hệ 3 chỉ có 1 khoản mục duy nhất là Ceftizoxim (chiếm 10% danh mục) nhưng chiếm tới 83,8% tổng giá trị sử dụng kháng sinh. Nhóm Quinolon có 4 khoản mục (chiếm 40% danh mục) và chiếm 11,9% giá trị. Về số lượt chỉ định trên tổng số 179 lượt, Cephalosporin dẫn đầu với 94 lượt (52,5%), Quinolon đạt 67 lượt (37,3%, trong đó Quinolon thế hệ 2 chiếm 24,5% và thế hệ 3 chiếm 12,8%), còn Penicillin, Aminoglycosid và 5-nitro-imidazol mỗi nhóm chiếm 3,4%.

Thứ tư, về phác đồ kê đơn và thời gian nằm viện, phác đồ kết hợp 2 kháng sinh chiếm đa số với 67% tổng số bệnh án, phác đồ đơn độc 1 kháng sinh chiếm 27%, và phác đồ 3 kháng sinh chiếm 6%. Số thuốc kháng sinh trung bình trên mỗi bệnh án là 1,79 thuốc. Thời gian nằm viện trung bình của bệnh nhân là 10,6 ngày (khoa Lão khoa 11,8 ngày, khoa Nội 9,3 ngày). Thời gian sử dụng kháng sinh trung bình đạt 9,5 ngày (khoa Lão khoa 11,4 ngày, khoa Nội 7,6 ngày), chiếm tỷ lệ 89,6% toàn bộ thời gian nằm viện.

Thảo luận kết quả

Thực trạng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Hải Dương phản ánh rõ nét tính chất điều trị trên đối tượng bệnh nhân cao tuổi. Mô hình bệnh tật trong nghiên cứu cho thấy bên cạnh bệnh hệ hô hấp (chiếm 44,8% tần suất chẩn đoán), bệnh nhân thường mắc kèm bệnh cơ xương khớp (chiếm 28,3%) và bệnh nội tiết chuyển hóa (chiếm 15,3%). Sự phức tạp của các bệnh lý nền khiến bác sĩ điều trị có xu hướng chỉ định phác đồ phối hợp kháng sinh phổ rộng (67%) và ưu tiên dạng tiêm truyền (99,8% giá trị) nhằm kiểm soát nhanh chóng triệu chứng nhiễm khuẩn.

Khi so sánh với các nghiên cứu trong nước, tỷ trọng chi phí thuốc kháng sinh đường tiêm tại đơn vị (99,8%) tương đồng với kết quả tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc (94,7%) và Bệnh viện Quân y 354 (86,52%). Tuy nhiên, tỷ lệ phối hợp 2 kháng sinh (67%) tại bệnh viện cao hơn đáng kể so với Bệnh viện Đa khoa Đồng Hỷ (32,9%) và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang (nơi phác đồ đơn trị liệu chiếm tới 82,8%).

Về mặt trình bày dữ liệu khoa học, các kết quả này có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ tròn mô tả cơ cấu giá trị tiền thuốc (Kháng sinh 81,2% so với Hô hấp 4,9% và các nhóm khác 13,9%) và biểu đồ cột so sánh thời gian điều trị kháng sinh giữa khoa Lão khoa (11,4 ngày) và khoa Nội (7,6 ngày). Điều này minh chứng cho thấy thời gian dùng kháng sinh tại khoa Lão khoa kéo dài hơn do khả năng hồi phục của người cao tuổi chậm hơn, song cũng đặt ra yêu cầu cần giám sát chặt chẽ nguy cơ lạm dụng thuốc kéo dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao tính hợp lý, an toàn và tối ưu hóa chi phí sử dụng kháng sinh, các giải pháp cụ thể được đề xuất như sau:

  • Ban hành và chuẩn hóa Hướng dẫn điều trị viêm phổi mắc phải ở cộng đồng tại nội viện dựa trên phân tầng nguy cơ theo thang điểm CURB-65 và phác đồ Bộ Y tế. Mục tiêu nâng tỷ lệ chỉ định kháng sinh ban đầu đúng hướng dẫn lên trên 85% và giảm tỷ lệ phối hợp kháng sinh không cần thiết xuống dưới 40% trong thời gian 6 tháng. Giải pháp do Hội đồng Thuốc và Điều trị chủ trì phối hợp với các khoa lâm sàng thực hiện.
  • Triển khai chương trình xuống thang và chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống (IV-to-PO switch) khi người bệnh ổn định huyết động và cải thiện triệu chứng lâm sàng sau 48 đến 72 giờ. Mục tiêu tăng tỷ trọng giá trị sử dụng kháng sinh đường uống từ 0,2% lên tối thiểu 15% đến 20%, giúp tiết kiệm 25% đến 30% chi phí điều trị trong vòng 12 tháng. Giải pháp do Dược sĩ lâm sàng phối hợp trực tiếp với Bác sĩ điều trị.
  • Tăng cường ưu tiên mua sắm và lựa chọn thuốc generic sản xuất trong nước đạt tiêu chuẩn tương đương sinh học và tiêu chuẩn chất lượng cao. Mục tiêu nâng tỷ trọng giá trị thuốc trong nước từ 9,2% lên 30% đến 35% trong kỳ đấu thầu thuốc năm tiếp theo. Giải pháp do Khoa Dược và Tổ chuyên gia lựa chọn nhà thầu thực hiện.
  • Thiết lập quy trình giám sát chặt chẽ liều dùng, khoảng cách đưa liều và tương tác thuốc thông qua việc cá thể hóa liều theo độ thanh thải creatinin cho 100% bệnh nhân cao tuổi có suy giảm chức năng thận. Mục tiêu giảm tỷ lệ kê đơn có tương tác bất lợi xuống dưới 5% trong vòng 3 tháng. Giải pháp do Đơn vị Thông tin thuốc - Dược lâm sàng thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng từ công trình nghiên cứu mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Ban Giám đốc và Hội đồng Thuốc và Điều trị tại các bệnh viện tuyến tỉnh và bệnh viện chuyên khoa: Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về cơ cấu kinh phí (kháng sinh chiếm 81,2% giá trị tiền thuốc), làm căn cứ xây dựng và thực thi hiệu quả Chương trình quản lý sử dụng kháng sinh theo Quyết định 5631/QĐ-BYT.
  • Bác sĩ điều trị tại các khoa Nội tổng hợp, Lão khoa và Hồi sức cấp cứu: Tài liệu giúp nhận diện những điểm chưa phù hợp trong việc phối hợp 2 kháng sinh (chiếm 67%) và kéo dài ngày điều trị (11,4 ngày tại Lão khoa), từ đó cá thể hóa phác đồ điều trị viêm phổi cho bệnh nhân cao tuổi.
  • Dược sĩ lâm sàng và cán bộ Khoa Dược bệnh viện: Đóng vai trò là cẩm nang thực hành để xây dựng tiêu chuẩn chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm (hiện chiếm 99,8% giá trị) sang đường uống, kiểm soát tương tác thuốc và đánh giá sử dụng thuốc định kỳ.
  • Học viên sau đại học, sinh viên chuyên ngành Dược lý - Dược lâm sàng và Tổ chức Quản lý Dược: Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu định lượng mẫu chuẩn 100 hồ sơ bệnh án bằng phương pháp chọn mẫu hệ thống và quy trình xử lý dữ liệu dược bệnh viện theo chuẩn mực khoa học.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao chi phí thuốc kháng sinh lại chiếm tỷ trọng áp đảo tới 81,2% tổng tiền thuốc trong điều trị viêm phổi mắc phải ở cộng đồng? Tỷ trọng này cao là do các bác sĩ chủ yếu chỉ định kháng sinh đường tiêm (chiếm 99,8% giá trị) và sử dụng biệt dược nhập khẩu đắt tiền (chiếm 90,8% giá trị, tiêu biểu là Ceftizoxim chiếm 83,8% tiền kháng sinh), trong khi bệnh nhân viêm phổi nội trú thường có nhiều bệnh lý phức tạp đòi hỏi điều trị tích cực.

Tỷ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm chiếm 99,8% giá trị phản ánh điều gì trong thực hành kê đơn? Con số này cho thấy xu hướng lạm dụng dạng thuốc tiêm truyền tĩnh mạch vẫn còn rất phổ biến tại bệnh viện. Tỷ lệ thuốc uống chỉ chiếm 0,2% giá trị chứng minh quy trình chuyển đổi từ kháng sinh tiêm sang kháng sinh uống sau 48 đến 72 giờ điều trị chưa được triển khai đồng bộ.

Vì sao phác đồ phối hợp 2 kháng sinh lại chiếm tới 67% tổng số hồ sơ bệnh án nghiên cứu? Phần lớn bệnh nhân điều trị tại bệnh viện là người cao tuổi mắc đồng thời nhiều bệnh mạn tính (bệnh cơ xương khớp chiếm 28,3%, nội tiết chiếm 15,3%). Do đó, bác sĩ thường chọn phối hợp Cephalosporin thế hệ 3 với Quinolon để mở rộng phổ kháng khuẩn ngay từ đầu nhằm hạn chế nguy cơ thất bại điều trị.

Thời gian sử dụng kháng sinh trung bình 9,5 ngày tại bệnh viện có phù hợp với khuyến cáo chuyên môn không? Thời gian này cơ bản nằm trong khung khuyến cáo chuẩn từ 7 đến 10 ngày của Bộ Y tế đối với viêm phổi mắc phải ở cộng đồng. Tuy nhiên, tại khoa Lão khoa, thời gian dùng thuốc trung bình lên tới 11,4 ngày và chiếm 96,6% thời gian nằm viện, cần được dược sĩ lâm sàng rà soát để rút ngắn liệu trình hợp lý.

Bệnh viện Phục hồi chức năng có đặc thù gì ảnh hưởng đến cơ cấu chỉ định kháng sinh cho bệnh nhân? Bệnh viện có thế mạnh điều trị lão khoa và cơ xương khớp, tiếp nhận nhiều bệnh nhân cao tuổi có thể trạng suy giảm, phản xạ ho khạc kém và chức năng gan thận suy giảm. Điều này đòi hỏi việc lựa chọn kháng sinh phải vừa bao phủ được vi khuẩn gây bệnh vừa phải hiệu chỉnh liều lượng cẩn trọng theo độ thanh thải creatinin.

Kết luận

  • Thuốc kháng sinh chiếm 23,3% số khoản mục nhưng chiếm tỷ trọng chi phí áp đảo lên tới 81,2% tổng giá trị tiền thuốc điều trị viêm phổi mắc phải ở cộng đồng.
  • Thuốc kháng sinh nhập khẩu và thuốc đường tiêm giữ vai trò chủ đạo, chiếm lần lượt 90,8% và 99,8% tổng giá trị tiêu thụ tiền kháng sinh tại bệnh viện.
  • Phác đồ phối hợp 2 kháng sinh chiếm tỷ lệ phổ biến nhất với 67%, số lượng kháng sinh bình quân đạt 1,79 thuốc trên mỗi hồ sơ bệnh án.
  • Hoạt chất Ceftizoxim thuộc phân nhóm Cephalosporin thế hệ 3 (chiếm 83,8% giá trị) và nhóm Quinolon (chiếm 37,3% lượt kê) là hai nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất.
  • Thời gian sử dụng kháng sinh trung bình toàn viện là 9,5 ngày, chiếm 89,6% thời gian nằm viện, trong đó khoa Lão khoa có thời gian dùng thuốc kéo dài nhất với 11,4 ngày.

Luận văn đã cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện và chuẩn xác đầu tiên về thực trạng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Hải Dương, chỉ rõ những khoảng trống trong việc lạm dụng thuốc tiêm và thuốc ngoại nhập. Trong quý 1 năm 2023, bệnh viện cần khẩn trương thiết lập quy trình quản lý sử dụng kháng sinh nội viện, triển khai phác đồ chuyển đổi đường dùng và phát huy vai trò của dược sĩ lâm sàng. Các nhà quản lý y tế và chuyên gia lâm sàng hãy tham khảo công trình nghiên cứu này để áp dụng vào công tác tối ưu hóa kê đơn, bảo vệ an toàn cho người bệnh và nâng cao hiệu quả kinh tế y tế.