ĐẶT VẤN ĐỀ Từ khi ra đời đến nay, kháng sinh đã cứu sống hàng triệu ngƣời trên toàn thế giới khỏi các bệnh nguy hiểm do nhiễm khuẩn gây ra, giúp phòng ngừa các biến chứng nhiễm trùng từ các can thiệp y tế đến các phẫu thuật thông thƣờng. Với những nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam, kháng sinh là nhóm thuốc quan trọng vì bệnh lý nhiễm khuẩn nằm trong số những bệnh hàng đầu cả về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn sử dụng, nhiều vi khuẩn đã trở nên đề kháng với thuốc. Một số vi khuẩn thậm chí còn kháng tất cả các loại kháng sinh.
Các chủng vi khuẩn kháng thuốc này đã và đang lan rộng trên toàn cầu. Trong khi đó, việc tìm ra các kháng sinh mới trở nên khó khăn hơn. Trong những năm gần đây hầu nhƣ rất ít kháng sinh mới đƣợc đƣa ra thị trƣờng. Bệnh viện Phục hồi chức năng Hải Dƣơng là bệnh viện chuyên khoa hạng 2 trực thuộc Sở Y tế, điểm mạnh của bệnh viện là điều trị các bệnh về cơ xƣơng khớp và lão khoa.
Năm 2020 bệnh viện thành lập thêm đơn nguyên Bệnh nhân nặng trực thuộc khoa Lão khoa – với chức năng điều trị cho bệnh nhân cao tuổi, có nhiều bệnh lý cùng một lúc , một trong những bệnh đó là Viêm phổi mắc phải cộng đồng. Vì vậy lựa chọn thuốc trong điều trị luôn đƣợc cân nhắc và thận trọng trong đó việc sử dụng kháng sinh rất đƣợc Ban lãnh đạo Bệnh viện quan tâm. Bệnh viện đã có một số đề tài về danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện, kê đơn thuốc ngoại trú, thuốc tăng huyết áp, tuy nhiên chƣa có đề tài nào về chủ đề kháng sinh trong điều trị VPMPCĐ.Với mong muốn góp phần nâng cao chất lƣợng kê đơn thuốc kháng sinh, đặc biệt là kháng sinh sử dụng trong bệnh VPMPCĐ, đồng thời làm rõ một số vấn đề bất cập, tồn tại trong việc chỉ định kháng sinh tại bệnh viện, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Phân tích thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh cho bệnh nhân bị viêm phổi mắc phải ở cộng đồng, điều trị nội trú tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Hải Dương năm 2021" với hai mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu thuốc trong bệnh án của bệnh nhân bị viêm phổi mắc phải ở cộng đồng được sử dụng trong điều trị nội trú tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Hải Dương năm 2021.
Phân tích thực trạng chỉ định thuốc kháng sinh trong điều trị viêm phổi mắc phải ở cộng đồng trong điều trị nội trú tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Hải Dương năm 2021. Từ đó tìm ra những vấn đề còn tồn tại trong việc sử dụng kháng sinh và đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện trong những năm tiếp theo. Đại cƣơng về kháng sinh 1. Định nghĩa kháng sinh Theo Hƣớng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế ban hành năm 2015, kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) đƣợc tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác [7].
Phân loại kháng sinh Có rất nhiều cách để phân loại kháng sinh, tuy nhiên ở đề tài này, chúng tôi đề cập đến phƣơng pháp phân loại kháng sinh theo cấu trúc hoá học. Theo cách phân loại này, kháng sinh đƣợc chia thành 09 nhóm chính, đƣợc thể hiện tại bảng 1. Phân loại kháng sinh theo cấu trúc hóa học STT Tên nhóm Tên nhóm Phân nhóm Phân nhóm Các penicillin Các cephalosporin 1 Beta-lactam Carbapenem Monobaclam Các chất ức chế beta - lactamase 2 Aminoglycosid 3 Macrolid 4 Lincosamid 5 Phenicol Thế hệ 1 6 Tetracyclin Thế hệ 2 Glycopeptid 7 Peptid Polypeptid Lipopeptid 8 Thế hệ 1 Quinolon Các fluoroquinolon: Thế hệ 2, 3,4 Sulfonamid 9 Các nhóm kháng sinh khác: Oxazolidinon 5-nitroimidazol 3 1. Phối hợp kháng sinh Mục đích của việc phối hợp kháng sinh là nới rộng phổ tác dụng, tăng hiệu quả điều trị và giảm kháng thuốc.
Tài liệu “Hƣớng dẫn sử dụng kháng sinh" của Bộ Y tế ban hành năm 2015 đã đƣa ra khuyến cáo rằng, chỉ phối hợp kháng sinh trong những trƣờng hợp cần thiết nhƣ điều trị lao, phong, viêm màng trong tim. Ngoài ra, có thể phối hợp KS cho những trƣờng hợp: bệnh nặng mà không có chẩn đoán vi sinh hoặc không chờ đƣợc kết quả xét nghiệm; ngƣời suy giảm sức đề kháng; nhiễm khuẩn do nhiều loại vi khuẩn khác nhau. Muốn phối hợp kháng sinh hợp lý cần phải hiểu rõ các đặc tính của kháng sinh sao cho khi phối hợp sẽ tạo ra tác dụng hiệp đồng, tránh các tƣơng tác và tƣơng kỵ có thể xảy ra [7]. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh 1.
Lựu chọn kháng sinh và liều lượng Theo Hƣớng dẫn sử dụng kháng sinh ban hành năm 2015 của Bộ Y tế việc lựa chọn thuốc kháng sinh (KS) đúng và hợp lý phụ thuộc vào hai yếu tố: ngƣời bệnh và vi khuẩn (VK) gây bệnh. Yếu tố liên quan đến ngƣời bệnh bao gồm: lứa tuổi, tiền sử dị ứng thuốc, chức năng gan - thận, tình trạng suy giảm miễn dịch, mức độ nặng của bệnh, bệnh mắc kèm, cơ địa dị ứng. về yếu tố VK, cần phải xem xét loại VK, độ nhạy cảm với kháng sinh của VK [7]. Liều dùng của KS phụ thuộc nhiều yếu tố: tuổi ngƣời bệnh, cân nặng, chức năng gan - thận, mức độ nặng của bệnh.
Dùng KS phải dùng ngay liều điều trị mà không tăng dần liều, cần điều trị liên tục, không ngắt quãng và không giảm liều từ từ để tránh kháng thuốc. Liều lƣợng trong các tài liệu hƣớng dẫn chỉ là gợi ý ban đầu. Không có liều chuẩn cho các trƣờng hợp nhiễm khuẩn nặng. Kê đơn không đủ liều sẽ dẫn đến thất bại điều trị và tăng tỷ lệ VK kháng thuốc [7].2 Sử dụng kháng sinh điều trị theo kinh nghiệm Hƣớng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế ban hành năm 2015 đã chỉ ra rằng, có thể điều trị KS theo kinh nghiệm khi chƣa có bằng chứng về vi khuẩn học do không có điều kiện nuôi cấy VK hoặc khi đã nuôi cấy mà không phát hiện đƣợc nhƣng có bằng chứng lâm sàng rõ rệt về nhiễm khuẩn.
Ngoài ra, khi điều trị KS theo kinh nghiệm cần tuân thủ các nguyên tắc nhƣ sau: Lựa chọn KS có phổ hẹp nhất gần với hầu hết các tác nhân gây bệnh hoặc với các VK nguy hiểm có thể gặp trong từng loại nhiễm khuẩn; kháng sinh phải có khả năng đến đƣợc vị trí nhiễm khuẩn với nồng độ hiệu quả nhƣng không gây độc. Nếu không có bằng chứng về VK sau 48 giờ điều trị, cần đánh giá lại lâm sàng trƣớc khi quyết định tiếp tục sử dụng kháng sinh [7]. Sử dụng kháng sinh khi có bằng chứng về vi khuẩn học Nếu có bằng chứng rõ ràng về VK và kết quả của kháng sinh đồ (KSĐ), KS đƣợc lựa chọn là KS có hiệu quả cao nhất với độc tính thấp nhất và có phổ tác dụng hẹp nhất gần với các tác nhân gây bệnh đƣợc phát hiện. Ƣu tiên sử dụng kháng sinh đơn độc và chỉ phối hợp kháng sinh trong những trƣờng hợp cần thiết [7].
Lựa chọn đường đưa thuốc Tài liệu Hƣớng dẫn sử dụng kháng sinh do Bộ Y tế ban hành năm 2015 đã chỉ rõ đƣờng uống là đƣờng dùng đƣợc ƣu tiên vì tính an toàn, tiện dụng và giá thành rẻ. Đƣờng tiêm chỉ đƣợc dùng trong những trƣờng hợp: khi khả năng hấp thụ qua đƣờng tiêu hóa bị ảnh hƣởng hoặc khi cần nồng độ kháng sinh trong máu cao, khó đạt đƣợc bằng đƣờng uống. Tuy nhiên, cần xem xét chuyển ngay sang đƣờng uống khi có thể [7]. Độ dài đợt điều trị Độ dài đợt điều trị của KS phụ thuộc vào tình trạng nhiễm khuẩn, vị trí 5 nhiễm khuẩn và sức đề kháng của ngƣời bệnh.
Các trƣờng hợp nhiễm khuẩn nhẹ và trung bình thƣờng đạt kết quả sau 7 - 10 ngày. Trƣờng hợp nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn ở những tổ chức mà kháng sinh khó thâm nhập thì đợt điều trị kéo dài hơn nhiều. Tuy nhiên, một số bệnh nhiễm khuẩn chỉ cần một đợt ngắn nhƣ nhiễm khuẩn tiết niệu - sinh dục chƣa biến chứng (khoảng 3 ngày, thậm chí một liều duy nhất). Nếu nhƣ không cần thiết, không nên điều trị kéo dài để tránh kháng thuốc, tăng tỷ lệ xuất hiện tác dụng không mong muốn và tăng chi phí điều trị [7].
Tác dụng không mong muốn và độc tính khi sử dụng kháng sinh Tất cả các kháng sinh đều có thể gây ra tác dụng không mong muốn (ADR). Cần cân nhắc nguy cơ/lợi ích trƣớc khi quyết định kê đơn KS, đặc biệt là đối với ngƣời cao tuổi, ngƣời suy giảm chức năng gan - thận vì tỷ lệ gặp ADR và độc tính cao hơn ngƣời bình thƣờng. Đối với những KS có độc tính cao trên gan và/hoặc thận, cần hiệu chỉnh lại liều lƣợng và/hoặc khoảng cách đƣa thuốc theo chức năng gan - thận để tránh tăng nồng độ KS quá mức cho phép. Với ngƣời bệnh suy thận, phải đánh giá chức năng thận theo độ thanh thải creatinin và mức liều tƣơng ứng sẽ đƣợc ghi ở mục "Liều dùng cho ngƣời bệnh suy thận" [7].
Phương pháp đánh giá sử dụng kháng sinh trong bệnh viện • Phƣơng pháp nghiên cứu chỉ số Để tăng cƣờng công tác về quản lý sử dụng kháng sinh tại các bệnh viện, cần phải đánh giá về tình hình sử dụng kháng sinh theo các tiêu chí dƣới đây: Thông tư số 21/TT-BYT ngày 8/8/2013 đã đưa ra một số chỉ số liên quan đến việc kê đơn thuốc kháng sinh như sau: - Tỉ lệ % thuốc kê nằm trong danh mục thuốc bệnh viện. - Số kháng sinh trung bình cho một bệnh nhân (BN) trong một ngày. - Số thuốc tiêm trung bình cho một BN trong một ngày. 6 - Chi phí thuốc trung bình cho một BN trong một ngày.
- Số xét nghiệm KSĐ đƣợc báo cáo của bệnh viện [6]. Ngoài ra để đánh giá về sử dụng kháng sinh ở bệnh viện, cần phải đánh giá các tiêu chí theo hướng dẫn tại Quyết định số 5631/ QĐ-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2020 bao gồm: - Số lƣợng, tỷ lệ % ngƣời bệnh đƣợc kê đơn kháng sinh. - Tiêu thụ kháng sinh tính theo liều dùng một ngày (DDD - Defined Daily Dose), báo cáo dƣới dạng DDD/100 hoặc 1000 (ngƣời - ngày hoặc ngày - giƣờng) - Chỉ số khuyến khích thực hiện: - Ngày điều trị kháng sinh (DOT - Days of Therapy) trung bình. DOT có thể đƣợc báo cáo thêm dƣới dạng DOT/100 hoặc 1000 (ngƣời - ngày hoặc ngày - giƣờng) (ngày nằm viện).