Đặt vấn đề Môi trường đã và đang là một vấn đề nóng bỏng đối với toàn nhân loại. Trái Đất vẫn đang bị đe dọa bởi môi trường ngày càng ô nhiễm, suy thoái trầm trọng. Do đó con người cần phải có ý thức hơn trong vấn đề bảo vệ môi trường, các hệ sinh thái trên Trái Đất, Chúng ta cần phải có các biện pháp quản lý môi trường chặt chẽ, hệ thống và hiệu quả nhằm ngăn chặn các tác động xấu đến môi trường và bảo vệ môi trường một cách tốt nhất. Việt Nam đã và đang trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, do vậy tác động không hề nhỏ tới môi trường, vì phải cân bằng giữa vấn đề môi trường và phát triển kinh tế nên công tác quản lý về môi trường còn gặp khó khăn nên cần phải được quan tâm nhiều hơn.
Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đã và đang được xây dựng và từng bước hoàn thiện.Bộ máy quản lý từ trung ương tới địa phương ngày càng hoạt động chặt chẽ. Nhưng trong thực tế công tác quản lý môi trường ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế, thi hành pháp luật chưa được nghiêm chỉnh, trình độ cán bộ quản lý chưa được cao, ý thức nhân dân còn kém, ít khi quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi trường Xuất phát từ thực trạng của công tác quản lý môi trường hiện nay tại Việt Nam, được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hưỡng dẫn trực tiếp của giảng viên Nguyến Đình Thi tôi nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010-2013” n 2 1. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 1. Mục đích của đề tài - Thông qua nghiên cứu chuyên đề nắm được mô hình bộ máy tổ chức công tác quản lý môi trường và hiện trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường tại địa bàn tỉnh Bắc Giang - Nắm được tình hình môi trường trên địa bàn tỉnh.
-Phân tích nguyên nhân, đề xuất các biện pháp phù hợp với điều kiện của sở nhằm nâng cao công tác quản lý môi trường 1. Yêu cầu của đề tài - Tìm hiểu điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và đánh giá ảnh hưởng của nó tới môi trường. - Đánh giá hiện trạng công tác quản lý môi trường sở một cách khách quan. - Các biện pháp đề xuất phải mang tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của sở.
- Thông tin số liệu đưa ra phải đảm bảo chính xác, đầy đủ và chi tiết. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng những kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế. - Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế. - Tích lũy kinh nghiện cho công việc sau khi ra trường.
- Bổ sung tư liệu cho học tập.2 Ý nghĩa thực tiễn - Tìm ra những ưu điểm và nhược điểm trong công tác quản lý môi trường của sở - Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách bảo vệ Môi trường và Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận của công tác quản lý môi trường 2.1 Cơ sở pháp lý: * Luật pháp Việt Nam - Luật bảo vệ môi trường 2005 được Quốc nước CHXHCNVN khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006; - Luật Tài nguyên nước được Quốc nước CHXHCNVN thông qua ngày 29/11/2005; - Luật khoáng số 60/2010/QH12 được Quốc nước CHXHCNVN khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17/11/2010; - Nghị định số 21/2008/NĐ – CP sửa đổi bổ sung nghị định 80/2006/NĐ – CP về việc quy định chi tiết hưỡng dẫn thi hành một số điều của luật BVMT; - Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước; - Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCN ngày 5/6/2000 của Bộ Khoa học Công nghệ về việc ban hành tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (31 tiêu chuẩn); - Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật cuuar Luật bảo vệ môi trường; - Nghị định 117/2009/NĐ-Cp ngày 31/12/2009 của chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; - Nghị định 67/2011/NĐ-CP ngày 08/08/2011 của chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của luật thuế bảo vệ môi trường; n 4 - Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/04/2011 của chính phủ về việc đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; - Nghị định 74/2011/NĐ-CP ngày 25/08/2011 Của chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản; - Thông tư 26/2011 TT-BTNMT ngày 18/07/2011 của Bộ Tài nguyên- Môi trường về việc quy định chi tiết một số điều của nghị định 29/2011 NĐ- CP ngày 18/04/2011 vủa chính phủ về việc đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; - Thông tư 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ Tài nguyên- Môi trường về việc quản lý chất thải nguy hại; - Thông tư 43/2010/TT-BTNMT ngày 29/01/2010 của Bộ Tài nguyên- Môi trường về việc quy định chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; - Thông tư 20/2011 TT-BTNMT ngày 20/06/2011 của Bộ Tài nguyên- Môi trường về việc sửa đổi định mức kinh tế – kỹ thuật hoạt động quan trắc môi trường không khí; - Thông tư 01/2012/ TT-BTNMT ngày 16/03/2012 của Bộ Tài nguyên- Môi trường về việc quy định thành lập, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết, lập và đăng ký đề án bảo vệ môi trường; - Thông từ 46/2011/ TT-BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ Tài nguyên- Môi trường quy định về việc bảo vệ môi trường làng nghề. * Các văn bản có liên quan khác - Luật hàng hải - Luật đất đai - Luật dầu khí - Luật khoáng sản n 5 - Luật tài nguyên nước - Luật bảo vệ và phát triển rừng - Bộ luật hình sự ( chương XVII các tội phạm về môi trường) - Luật lao động - Các tiêu chuẩn môi trường - Các quy chuẩn môi trường * Luật pháp quốc tế Khái niệm: là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các cuốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi tàn phá ngoài quốc gia (PGS. Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2006) Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phi. Từ hội nghị quốc tế về “môi trường con người” tổ chức năm 1972 tại Thụy Điển và sau hội nghi thượng đỉnh Rio 92 rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết.
Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn bản đã được chính phủ Việt Nam tham gia ký kết như sau: - Công ước Chicago về hàng không dân dụng quốc tế 1994. - Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967. - Công ước về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, được biệt là nơi cư trú của các loài chim nước (Ramsar) 1971 (20/09/1988). - Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hóa và tự nhiên (19/10/1982).
- Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ vũ khí hóa học, vi trùng và công nghệ thiêu hủy chúng. - Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa 1973 (20/01/1994) n 6 - Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển MARPOL (29/08/1980) - Nghị định thư chữ thập đỏ liên quan đến bảo vệ nạn nhân các cuộc xung đột vũ trang. - Công ước liên hợp quốc về luật biển (25/07/1994) - Cam kết quốc tế về phổ biến là sử dụng thuốc diệt côn trung FAO 1985. - Công ước Viên về bảo vệ tang ô-zôn 1985 (26/04/1994) - Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân IAEA 1985 (29/09/1987) - Công ước về trợ giúp trong trường hợp có sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu phóng xạ 1986, (29/09/1987) - Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn 1987 (02/02/1989) - Công ước basel về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải độc hại và việc loại bỏ chúng (13/05/1995) - Công ước chung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu 1992 (16/11/1994) - Công ướ về đa dạng sinh học 1992 (16/11/1994) - Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính (16/02/2005) 2.2 Cơ sở kinh tế trong quản lý môi trường Cơ sở kinh tế trong quản lý môi trường, được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và các hoạt động có ảnh hưởng tới môi trường được điều tiết quá các công cụ kinh tế.
Hoạt động sản xuất của xã hội thường được điều hòa bằng số lượng tối ưu nào đó của sản phẩm theo quan hệ nhu cầu Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất ra của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của cạnh tranh về chất lượng và các loại giá. n 7 Loại hàng hóa có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được ưu tiên tiêu thụ và ngược lại. Tuy nhiên đôi khi giá cả thị trường không phản ánh hoạt động của những người sản xuất hay những người tiêu dùng, do tồn tại những ngoại ứng hàng hóa công cộng. Ngoại ứng là nhứng tác động đến lợi ích và chi phí nằm ngoài thị trường.
Ngoại ứng có thể là tích cực, khi tạo ra lợi ích cho các bên khác, hoặc tiêu cực khi áp đặt các chi phí cho các bên khác. Hàng hóa công cộng là hàng hóa được dùng cho nhiều người khi chúng được cung cấp cho một số người thì những người khác có thể sử dụng chúng được. Môi trường là loại hàng hóa có hai thược tính không canh tranh và không loại trừ. Ngoại ứng tiêu cực của hoạt động sản xuất ở một xí nghiệp hoặc một ngành có thể hạn chế khi chi phí biên của xã hội bằng lợi ích biên xã hội để sản xuất ra hàng hóa.
Nhà nước với chức năng điều hành tổng thể các hoạt động sản xuất và tiêu dùng sản phẩm, thông qua các biện pháp và công cụ kinh tế của mình.