Tổng quan nghiên cứu

Kinh tế tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn đổi mới đã ghi nhận bước chuyển mình mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp đạt bình quân trên 23% mỗi năm. Tỉnh đã quy hoạch 1 khu công nghiệp tập trung là Khu công nghiệp Hòa Phú và 15 cụm công nghiệp với tổng diện tích lên tới 892,0 ha. Trong đó, có 8 cụm công nghiệp với diện tích 614,73 ha đã triển khai xây dựng hạ tầng với tổng nguồn vốn thực hiện đạt 407 tỷ đồng. Tính đến cuối năm 2014, địa bàn tỉnh có 376 doanh nghiệp hoạt động sản xuất công nghiệp với 143 dự án đầu tư có tổng vốn đăng ký đạt 6.776 tỷ đồng. Các ngành công nghiệp mũi nhọn phát triển mạnh bao gồm chế biến nông - lâm sản như cà phê, mía đường, tinh bột sắn, mủ cao su, cùng với khai thác khoáng sản và thủy điện.

Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của các cơ sở sản xuất công nghiệp đã gây áp lực to lớn lên môi trường sinh thái địa phương. Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt giai đoạn 2011 - 2015 trên các lưu vực sông chính như sông Sêrêpôk, sông Krông Ana, sông Ea H'leo cho thấy nồng độ COD và BOD5 thường xuyên vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08:2008/BTNMT loại A2. Hoạt động tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường của đa số doanh nghiệp vẫn mang tính đối phó, thiếu hệ thống theo dõi định lượng minh bạch. Trước thực trạng đó, đề tài tập trung giải quyết vấn đề thiếu hụt một công cụ đánh giá, phân hạng môi trường chuẩn hóa phù hợp với đặc thù công nghiệp vùng Tây Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu là xây dựng bộ tiêu chí khoa học, thực hiện phân hạng thử nghiệm cho 31 doanh nghiệp công nghiệp trọng điểm trong giai đoạn từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên Lý thuyết Giá trị Đa thuộc tính (Multiple Attribute Value Theory - MAVT) và phương pháp Ra quyết định Đa tiêu chí (MCDA). Đây là nền tảng toán học cho phép tổng hợp các thuộc tính định tính và định lượng có đơn vị đo lường khác nhau thành một chỉ số tổng hợp duy nhất. Mô hình cốt lõi được áp dụng là phương pháp Trọng số Cộng Đơn giản (Simple Additive Weighting - SAW), kết hợp kỹ thuật Phân tích Thứ bậc (Analytic Hierarchy Process - AHP) để xác định trọng số cho từng chỉ thị.

Bên cạnh đó, đề tài kế thừa và phát triển lý thuyết về Công khai Thông tin Môi trường dựa vào Cộng đồng (Environmental Performance Rating and Disclosure - EPRD). Khái niệm này từng được áp dụng thành công qua chương trình PROPER tại Indonesia từ những năm 1990 giúp giảm 32% lượng phát thải BOD và COD, chương trình Greenwatch tại Trung Quốc năm 2000 giúp tăng tỷ lệ doanh nghiệp xanh từ 31% lên 62%, cũng như mô hình Sách Phân Hạng Xanh tại Hải Phòng, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Các khái niệm trung tâm bao gồm: Chỉ thị môi trường đa chiều, Trọng số toàn cục của nguồn thải, và Sản xuất sạch hơn (Cleaner Production). Mô hình đánh giá được thiết lập bao trùm 3 nhóm chủ đề chính: Sử dụng tài nguyên và phát thải môi trường, Năng lực kinh tế, Năng lực quản lý và hài hòa xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập thông qua điều tra hiện trạng tại 31 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích, căn cứ theo phân loại cơ sở sản xuất công nghiệp quy định tại Thông tư 04/2012/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Mẫu khảo sát đại diện cho 8 nhóm ngành công nghiệp trọng điểm gồm: chế biến thực phẩm và đồ uống, chế biến nông - lâm sản, chế biến mủ cao su, sản xuất tinh bột sắn, sản xuất điện năng thủy điện, khai thác khoáng sản, sản xuất cơ khí - kim loại và sản xuất phân bón vi sinh.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp quy trình 5 bước theo mô hình SAW và AHP. Lý do lựa chọn mô hình này là khả năng lượng hóa khách quan các tiêu chí phức tạp, giảm thiểu tính chủ quan của người đánh giá thông qua việc kiểm tra tỷ số nhất quán ma trận (CR < 0,1). Toàn bộ dữ liệu thu thập từ phiếu điều tra hiện trường, báo cáo giám sát môi trường định kỳ năm 2016 và hồ sơ pháp lý được xử lý thống kê bằng phần mềm chuyên dụng và bộ công cụ AHP trên nền tảng bảng tính Excel do nhóm nghiên cứu của Phó Giáo sư Tiến sĩ Chế Đình Lý phát triển. Quá trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu thực nghiệm được triển khai đồng bộ trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã sàng lọc từ hệ thống chỉ thị sơ bộ để kết xuất bộ tiêu chí chính thức gồm 22 chỉ thị đo lường, phân bổ vào 3 nhóm chủ đề cốt lõi: Nhóm chỉ thị sử dụng tài nguyên và phát thải vào môi trường chiếm tỷ trọng lớn nhất với 14 chỉ thị; Nhóm chỉ thị năng lực kinh tế gồm 2 chỉ thị; Nhóm chỉ thị năng lực quản lý và hài hòa xã hội gồm 6 chỉ thị.

Thứ hai, kết quả phân hạng 31 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp theo thang điểm 5 bậc cho thấy bức tranh phân hóa rõ nét về mức độ tuân thủ môi trường:

  • Doanh nghiệp đạt mức Bảo vệ môi trường Khá chiếm tỷ lệ áp đảo với 68% (tương đương 21 doanh nghiệp).
  • Doanh nghiệp đạt mức Bảo vệ môi trường Tốt chiếm 26% (tương đương 8 doanh nghiệp).
  • Doanh nghiệp ở mức Bảo vệ môi trường Chưa tốt và có tác động tiêu cực đến môi trường chiếm 6% (tương đương 2 doanh nghiệp).
  • Toàn tỉnh chưa ghi nhận doanh nghiệp nào rơi vào mức Kém hoặc gây hậu quả môi trường nghiêm trọng.

Thứ ba, điểm số tổng hợp giữa các ngành nghề có sự chênh lệch đáng kể. Điểm số đánh giá thấp nhất trong toàn bộ mẫu khảo sát là 3,35 trên thang điểm 5,0 thuộc về một doanh nghiệp chế biến mủ cao su do phát sinh mùi hôi hữu cơ và nước thải có tải lượng ô nhiễm cao. Ngược lại, các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp thủy điện và sản xuất đồ uống quy mô lớn đạt điểm số cao vượt trội nhờ công nghệ tuần hoàn hiện đại và ít phát sinh chất thải nguy hại.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa kết quả phản ánh đúng bản chất công nghệ và đặc thù nguyên liệu của từng ngành sản xuất tại Đắk Lắk. Các đơn vị chế biến nông sản theo mùa vụ như nhà máy sản xuất tinh bột sắn hay chế biến cao su thường xuyên đối mặt với nguy cơ quá tải hệ thống xử lý nước thải cục bộ trong các tháng cao điểm thu hoạch. Điển hình như tại Nhà máy mì Thành Vũ, hệ thống xử lý nước thải sinh học bị quá tải khi công suất vượt định mức, dẫn đến suy giảm hiệu quả xử lý COD. Trong khi đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn như Nhà máy Bia Sài Gòn - Đắk Lắk hay Nhà máy Mía đường 333 duy trì vận hành ổn định trạm xử lý nước thải đạt quy chuẩn cột A, đồng thời tái sử dụng bã mía và bùn thải làm phân bón hữu cơ.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, kết quả này có tính tương đồng cao với chương trình PROPER của Indonesia và Greenwatch của Trung Quốc khi công bố ban đầu: phần lớn doanh nghiệp nằm ở nhóm trung bình khá và cần sự can thiệp chính sách để vươn lên nhóm dẫn đầu. Về phương diện trình bày khoa học, hệ thống dữ liệu này có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu phân hạng tỷ lệ phần trăm (68% Khá, 26% Tốt, 6% Chưa tốt), kết hợp biểu đồ mạng nhện (radar chart) để so sánh 3 trục năng lực (Tài nguyên - Kinh tế - Quản lý) giữa các ngành công nghiệp chủ lực, và bảng đối chiếu điểm số chi tiết từng cơ sở sản xuất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nhóm giải pháp giảm thiểu chất thải tại nguồn: Yêu cầu 100% doanh nghiệp chế biến mủ cao su và tinh bột sắn đầu tư nâng cấp công nghệ tách dòng thải nước rửa và nước sản xuất trước quý 4 năm 2018. Mục tiêu giảm thiểu 30% đến 40% tải lượng hữu cơ BOD và COD đi vào hệ thống xử lý tập trung, do Ban Quản lý các Khu công nghiệp và doanh nghiệp chủ quản trực tiếp thực hiện.

Thứ hai, nhóm giải pháp tiết kiệm tài nguyên và sản xuất sạch hơn: Triển khai ứng dụng công nghệ thu hồi khí biogas từ quá trình xử lý kỵ khí nước thải tinh bột sắn để phát điện hoặc làm chất đốt phục vụ sấy bã mì, đặt mục tiêu tiết kiệm 15% đến 20% chi phí nhiên liệu trong giai đoạn 2018 - 2020. Chủ thể thực hiện là Bộ phận Kỹ thuật và Quản lý năng lượng của các cơ sở chế biến.

Thứ ba, nhóm giải pháp nâng cao năng lực quản lý và áp dụng tiêu chuẩn quốc tế: Thúc đẩy 50% doanh nghiệp có quy mô vốn trên 50 tỷ đồng xây dựng và đạt chứng nhận Hệ thống Quản lý Môi trường ISO 14001:2015 trước năm 2020. Doanh nghiệp cần tổ chức tập huấn định kỳ 6 tháng một lần cho 100% cán bộ kỹ thuật vận hành hệ thống xử lý môi trường.

Thứ tư, nhóm giải pháp chính sách và công khai thông tin: Đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk và Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy chế phân hạng môi trường doanh nghiệp định kỳ 2 năm một lần, tiến hành xuất bản Sách Xanh công khai trên cổng thông tin điện tử của tỉnh từ năm 2018. Đồng thời, áp dụng chính sách ưu đãi thuế và giảm 50% tần suất thanh tra đối với các doanh nghiệp đạt hạng Tốt liên tục trong 2 kỳ đánh giá.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, Chi cục Bảo vệ Môi trường và Phòng Tài nguyên Môi trường cấp huyện. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận AHP - SAW chuẩn xác để xây dựng bộ công cụ phân loại, giám sát nguồn thải công nghiệp trên địa bàn quản lý.

Nhóm 2: Ban lãnh đạo, giám đốc nhà máy và cán bộ chuyên trách môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp tự đánh giá mức độ tuân thủ qua 22 chỉ thị cụ thể, từ đó tối ưu hóa quy trình sản xuất và xây dựng lộ trình đầu tư công nghệ giảm thiểu chi phí xử lý chất thải.

Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Môi trường, Chính sách Công và Kỹ thuật Môi trường. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo mẫu mực về việc ứng dụng lý thuyết ra quyết định đa tiêu chí vào giải quyết bài toán môi trường thực tiễn tại cấp địa phương.

Nhóm 4: Các tổ chức tài chính, ngân hàng thương mại và quỹ đầu tư xanh. Nghiên cứu cung cấp hệ thống thang đo tin cậy giúp các tổ chức tín dụng thẩm định rủi ro môi trường xã hội trước khi phê duyệt cấp vốn cho các dự án công nghiệp trên địa bàn Tây Nguyên.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống tiêu chí của luận văn bao gồm những nhóm nội dung chính nào?
Hệ thống gồm 22 chỉ thị đo lường chính thức chia thành 3 nhóm chủ đề: Nhóm sử dụng tài nguyên và phát thải môi trường gồm 14 chỉ thị, Nhóm năng lực kinh tế gồm 2 chỉ thị, và Nhóm năng lực quản lý cùng hài hòa xã hội gồm 6 chỉ thị.

Phương pháp SAW và AHP đóng vai trò gì trong quá trình phân hạng doanh nghiệp?
Phương pháp AHP được sử dụng để xác định trọng số ưu tiên khách quan cho các chỉ thị thông qua so sánh cặp với tỷ số nhất quán CR nhỏ hơn 0,1. Phương pháp SAW dùng hàm cộng tuyến tính để tổng hợp điểm số của từng doanh nghiệp trên thang điểm chuẩn hóa từ 1 đến 5.

Tỷ lệ phân hạng bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp tại Đắk Lắk đạt kết quả như thế nào?
Trong 31 doanh nghiệp khảo sát năm 2016, có 68% doanh nghiệp đạt mức Khá (21 cơ sở), 26% đạt mức Tốt (8 cơ sở), 6% đạt mức Chưa tốt (2 cơ sở) và không có doanh nghiệp nào bị xếp vào mức Kém hoặc gây ô nhiễm nghiêm trọng.

Ngành công nghiệp nào có điểm số đánh giá môi trường thấp nhất trong nghiên cứu?
Ngành chế biến mủ cao su ghi nhận điểm số thấp nhất là 3,35 trên 5,0. Nguyên nhân chính do đặc thù nước thải chứa nồng độ chất hữu cơ cao và phát tán mùi hôi khó xử lý triệt để trong quá trình chế biến mủ tạp.

Kết quả xếp hạng doanh nghiệp có thể ứng dụng vào quản lý nhà nước như thế nào?
Cơ quan chức năng có thể xuất bản Sách Xanh công khai thông tin môi trường định kỳ 2 năm một lần, giảm tần suất kiểm tra cho doanh nghiệp xếp loại Tốt và tăng cường thanh tra, cưỡng chế đối với các cơ sở xếp hạng Chưa tốt.

Kết luận

  • Xây dựng thành công hệ thống 22 chỉ thị phân hạng bảo vệ môi trường chuẩn hóa cho các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại tỉnh Đắk Lắk.
  • Ứng dụng thành công mô hình toán học đa tiêu chí SAW kết hợp AHP trên bảng tính Excel, bảo đảm tỷ số nhất quán ma trận khoa học với CR nhỏ hơn 0,1.
  • Hoàn thành đánh giá thực nghiệm cho 31 doanh nghiệp công nghiệp thuộc 8 nhóm ngành trọng điểm, xác định 68% cơ sở đạt loại Khá và 26% cơ sở đạt loại Tốt.
  • Luận văn đóng góp khung phương pháp luận thực tiễn giúp chuyển đổi phương thức quản lý môi trường truyền thống sang cơ chế công khai thông tin dựa vào cộng đồng.
  • Đề xuất lộ trình triển khai Quy chế phân hạng môi trường cấp tỉnh giai đoạn 2018 - 2020 và kế hoạch nâng cao năng lực sản xuất sạch hơn cho toàn bộ các khu, cụm công nghiệp.

Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ để thể chế hóa bộ tiêu chí này thành chính sách chính thức, thúc đẩy phát triển công nghiệp bền vững tại địa phương.