PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, ngành công nghiệp khai khoáng trên địa bàn tỉnh Nghệ An có bước phát triển đáng kể đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Bởi vậy, việc cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường (CTPHMT) đối với hoạt động khai thác khoáng sản là công cụ quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (BVMT). Hiện nay, cơ chế ký quỹ phục hồi môi trường được quy định tại Quyết định số 71/QĐ-TTg ngày 29-5-2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ CTPHMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản.
Đây cũng là căn cứ quan trọng để cơ quan quản lý nhà nước nâng cao công tác quản lý góp phần phục hồi, hoàn nguyên môi trường, trả lại cảnh quan và bảo vệ môi trường. Thực hiện Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về ký quỹ, cải tạo phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản, hiện nay, tỉnh đã thành lập Quỹ BVMT Nghệ An đã được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 9-2011.Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có những hạn chế, vướng mắc cần tháo gỡ. Bản thân hiện nay đang làm việc trong “Quỹ Bảo vệ môi trường Nghệ An”, thông qua nghiên cứu này sẽ là cơ hội giúp cho nâng cao năng lực công việc chuyên môn tốt hơn. Vận dụng những kết quả học tập thu nhận được của chương trình cao học chuyên ngành Kinh tế-Quản lý tài nguyên và môi trường vào nghiên cứu một lĩnh vực cụ thể trên địa bàn tỉnh Nghệ An cho luận văn kết thúc khóa học.
Đây cũng là vấn đề bức xúc và phù hợp với định hướng mục tiêu quản lý môi trường của tỉnh trong những năm tới. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của ký quỹ môi trường trong khai thác khoáng sản; Điều tra đánh giá hiện trạng thực hiện ký quỹ môi 2 trường trong lĩnh vực này , từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả ký quỹ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là hoạt động ký quỹ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Phạm vi nghiên cứu: Về học thuật: Luận văn sử dụng khoa học kinh tế và quản lý môi trường, cụ thể là sử dụng công cụ ký quỹ môi trường. Công cụ ký quỹ môi trường đã được thể chế hóa thông qua các thông tư liên bộ và quyết định của Chính phủ về việc ký quỹ, cải tạo phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản. Về phạm vi lãnh thổ: Luận văn tiến hành nghiên cứu, điều tra số liệu và tình hình thực hiện ký quỹ, cải tạo phục hồi môi trường tại các cơ sở khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Về thời gian: + Thời gian thực hiện nghiên cứu đề tài là 12 tháng.
+ Thời gian thu thập số liệu, cơ sở dữ liêu sử dụng phục vụ nghiên cứu từ năm 2005 -2012. Phƣơng pháp nghiên cứu Kế thừa các cơ sở dữ liệu, các nguồn tài liệu, các nghiên cứu đã có liên quan đến đề tài thông qua thu thập, xử lý và tổng hợp các tài liệu đó. Các nguồn số liệu trong Luận văn được thu thập từ: Chi cục BVMT Nghệ An, Quỹ BVMT Nghệ An, Quỹ BVMT Quảng Ninh, Chi cục BVMT Lào Cai, Phòng Tài nguyên khoáng sản 3 Nghệ An, Viện Khoa học quản lý môi trường Việt Nam, qua Internet, qua điều tra và tác giả tự tổng hợp. Điều tra xã hội học thông qua thiết kế bảng hỏi tại một số cơ sở khai thác khoáng sản quan trọng trên địa bàn tỉnh Nghệ An về việc ký quỹ CTPHMT từ năm 2008 đến 2012.
Phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở các tài liệu thu thập và điều tra, tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chứng để rút ra các nội dung cần nghiên cứu của đề tài. Phương pháp chuyên gia: Sử dụng các chuyên gia giỏi đúng chuyên ngành, các nhà lãnh đạo liên quan để tư vấn, đọc và nhận xét những vấn đề khó, các nội dung mà nghiên cứu đề tài không luận giải được. Đóng góp của đề tài Kết quả nghiên cứu luận văn sẽ đưa ra một nhìn nhận tổng quát về hoạt động ký quỹ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Thông qua kết quả nghiên cứu, đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện công cụ này trong công tác quản lý môi trường đối với lĩnh vực khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ an.
Là tài liệu tham khảo tốt cho các đối tượng quan tâm về ký quỹ môi trường trong khai thác khoáng sản, nhất là lĩnh vực chuyên ngành Kinh tế-Quản lý tài nguyên và môi trường, bao gồm các học viên cao học và sinh viên. Kết cấu Luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu theo 3 chương sau: Chương 1. Cơ sở lý luận về ký quỹ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản. Hiện trạng ký quỹ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác ký quỹ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KÝ QUỸ MÔI TRƢỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 1. Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trƣờng Công cụ kinh tế hay các công cụ dựa vào thị trường được định nghĩa là “biện pháp khuyến khích kinh tế, được xây dựng dựa trên nền tảng của các quy luật kinh tế thị trường. Công cụ kinh tế có thể được hiểu là các công cụ chính sách sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong các hoạt động của cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường”.1 Hiện nay, công cụ kinh tế được áp dụng ở hầu hết các nước phát triển và các nước đang phát triển, và ngày càng phong phú về thể loại.
Có thể chia công cụ kinh tế trong quản lý môi trường thành ba nhóm chính bao gồm: (1) nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho NSNN, (2) nhóm công cụ tạo lập thị trường và (3) nhóm công cụ nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động BVMT. Nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho ngân sách Nhóm công cụ này gồm thuế và phí môi trường, đây là những là công cụ kinh tế được sử dụng để tạo nguồn thu trực tiếp cho NSNN. Công cụ này nhằm 2 mục tiêu chủ yếu là khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất thải ra môi trường và tăng nguồn thu cho NSNN thông qua việc đưa chi phí môi trường vào trong giá thành sản phẩm theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. * Thuế môi trường Thuế môi trường là một công cụ kinh tế để giải quyết các vấn đề môi trường.
Đây là khoản thu cho NSNN từ những đối tượng gây ô nhiễm, làm thiệt hại cho môi trường. Nó góp phần hạn chế, giảm thiểu các tác nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, khuyến khích các hoạt động BVMT. Thuế môi trường được thiết kế để nội hóa chi phí môi trường và tạo ra động lực kinh tế cho cá 1 Nguyễn Thế Chinh, 2003, Giáo trình Kinh tế và quản lý Môi trường, Nhà xuất bản Thống Kê 5 nhân, tổ chức thúc đẩy các hoạt động sinh thái bền vững2. Thuế môi trường thông thường đánh chủ yếu vào các chất gây ô nhiễm môi trường hay các sản phẩm hàng hóa mà việc sản xuất, sử dụng chúng có tác động tiêu cực đến môi trường, gây ô nhiễm môi trường như: thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm (thuế Sunfua, thuế CFCs, thuế CO2…) và thuế đánh vào các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường (thuế xăng, dầu, than, thuốc bảo vệ thực vật…).
* Phí môi trường Phí môi trường là khoản thu của NSNN dành cho hoạt động bảo vệ môi trường như để thu gom và xử lý phế thải, nước thải, khắc phục ô nhiễm môi trường3. Mục đích chính của việc thu phí môi trường là hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa việc xả các chất thải ra môi trường, mà các chất thải này có khả năng xử lý được. Phí môi trường buộc những người gây ô nhiễm môi trường phải xử lý các chất thải trước khi thải ra môi trường hay hạn chế sử dụng các nguồn nguyên liệu có nguy cơ gây ra ô nhiễm, vì vậy công cụ này khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh, những người gây ô nhiễm phải xử lý các chất ô nhiễm trong nguồn thải trước khi thải ra môi trường. Phí môi trường được tính toán dựa trên lượng phát thải của chất ô nhiễm và chi phí xử lý ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm.
Nhóm công cụ tạo lập thị trường * Chi trả dịch vụ môi trường Chi trả dịch vụ môi trường hay còn gọi là chi trả dịch vụ sinh thái là công cụ kinh tế sử dụng để những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng 2 Japan Center for a Sustainable Environment and Society (JACES), What are Environmental Taxes?, http://www.org/en/paco/envtax.htm 3 Nguyễn Thế Chinh, 2003, Kinh tế Quản lý Tài nguyên và Môi trường, tr.423, Nhà xuất bản Thống kê 6 của hệ sinh thái đó4. Đây là cơ chế chuyển giao nguồn tài chính từ những người được hưởng lợi từ dịch vụ sinh thái nhất định cho những người cung cấp các dịch vụ sinh thái. Chi trả dịch vụ sinh thái là sự giao kèo, ký kết tự nguyện và cùng có lợi giữa những người được hưởng lợi từ hệ sinh thái và những nhà cung cấp dịch vụ sinh thái. Bên cung cấp dịch vụ sinh thái nắm quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ môi trường mang lại những lợi ích cho bên có nhu cầu.
Bên được hưởng lợi từ dịch vụ sinh thái sẽ sẵn sàng chi trả một mức giá thấp so với phúc lợi của họ do hệ sinh thái mang lại. Bên cung cấp dịch vụ sinh thái sẵn sàng chấp nhận một mức chi trả cao hơn chi phí của việc cung cấp các dịch vụ sinh thái. Chương trình chi trả dịch vụ sinh thái là một ví dụ điển hình của định lý Coase.