Giới thiệu dự án

Ngành khai thác than Việt Nam đã trải qua hơn 120 năm phát triển với tổng sản lượng khoảng 278 triệu tấn than sạch. Riêng giai đoạn 1995–2001, ngành đã khai thác 73,4 triệu tấn than sạch, đào 504,5 km đường lò và bóc đổ thải 237,2 triệu m³ đất đá. Khối lượng đất đá thải khổng lồ này chính là nguồn phát sinh chất rắn lơ lửng (TSS), sunfua và kim loại nặng đi vào hệ thống sông suối — vấn đề mà khóa luận này đặt làm trọng tâm nghiên cứu.

Thái Nguyên có khoảng 34 loại hình khai thác khoáng sản, trong đó than mỡ trên 15 triệu tấn và than đá khoảng 90 triệu tấn. Mỏ than Bá Sơn (xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương) là một bộ phận của khoáng sàng Bá Sơn – Quán Triều, nằm cách khu dân cư chỉ 30–50 m với khoảng 30 hộ dân sinh sống xung quanh. Đây chính là pain point cụ thể: nước thải mỏ với lưu lượng 2.891,45 m³/ngày.đêm xả vào suối Huyền — nguồn nước mặt phục vụ tưới tiêu của cánh đồng xã Cổ Lũng.

Problem statement: Hoạt động khai thác lộ thiên và hầm lò tại Bá Sơn phát sinh nước thải moong, nước thải hầm lò (nước ngầm thấm + nước mưa chảy tràn) chứa nhiều TSS, silicat, bột kết, sét kết. Chưa có đánh giá định lượng nào xác định hệ thống ao lắng hai bậc hiện hữu có đủ năng lực xử lý hay không, và mức độ tác động thực tế lên suối Huyền là bao nhiêu.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Đánh giá hiện trạng môi trường nước tại khu vực mỏ than Bá Sơn
  2. Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường tại mỏ
  3. Định lượng ảnh hưởng của khai thác than đến nước mặt suối Huyền năm 2018
  4. Đề xuất giải pháp xử lý, cải thiện chất lượng nước cho địa phương

Solution approach: Thiết kế mạng quan trắc 5 điểm theo cặp trước/sau (before-after) kết hợp trên/dưới điểm xả (upstream-downstream), phân tích 18 thông số theo phương pháp chuẩn SMEWW 2012 và TCVN, đối chiếu QCVN 40:2011/BTNMT, QCVN 14:2008/BTNMT, QCVN 08-MT:2015/BTNMT.

Phạm vi và giới hạn: Đề tài thực hiện từ tháng 08 đến tháng 12/2018, tập trung vào môi trường nước (nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt, nước mặt suối Huyền). Không bao gồm nước dưới đất, đất và không khí. Dữ liệu chủ yếu từ đợt quan trắc ngày 27/11/2018 — đây là giới hạn về tính đại diện theo mùa.

Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Mỏ Bá Sơn có quy mô: trữ lượng huy động 165.251 tấn (lộ thiên 92.751 tấn, hầm lò 72.500 tấn); công suất 33.000 tấn/năm (lộ thiên 18.500, hầm lò 14.500); tuổi thọ mỏ 8 năm; diện tích 63,97 ha; lao động 177 người (146 định biên trực tiếp, 162 danh sách). Năng suất bình quân 186 tấn than/người/năm, năng suất trực tiếp 208 tấn/người/năm.

So sánh các phương án xử lý nước thải mỏ than:

Giải pháp Ưu điểm Nhược điểm Hiệu suất TSS điển hình
Ao lắng trọng lực 2 bậc (Bá Sơn đang dùng) Chi phí thấp, vận hành đơn giản, không hóa chất Không xử lý được kim loại hòa tan, phụ thuộc thời gian lưu 80–92%
Lắng + keo tụ PAC/phèn Xử lý hạt mịn <10 µm Chi phí hóa chất, phát sinh bùn thải 95–98%
Xử lý AMD bằng vôi + lắng Trung hòa pH axit, kết tủa Fe/Mn Đầu tư cao, cần vận hành kỹ thuật 96–99% + Fe >95%

Gap analysis: pH nước thải Bá Sơn đo được 7,12 (trước xử lý) — không mang tính axit mỏ (AMD) điển hình, nên phương án vôi hóa là không cần thiết. Cơ hội cải tiến nằm ở khâu tăng thời gian lưu và bổ sung keo tụ cho nước thải sinh hoạt.

Yêu cầu theo MoSCoW:

  • Must: TSS, COD đạt QCVN 40:2011/BTNMT cột B; đo được hiệu suất xử lý
  • Should: Đánh giá kim loại nặng (As, Cd, Pb, Fe), sunfua
  • Could: So sánh thượng lưu/hạ lưu suối Huyền
  • Won't: Quan trắc nhiều mùa, mô hình lan truyền chất ô nhiễm

Thiết kế hệ thống

Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải hiện hữu:

Mạng quan trắc (5 điểm, ngày 27/11/2018):

Ký hiệu Vị trí Vĩ độ Cảm quan
NT1 Hồ lắng trước xử lý 21°037.272' Màu đen, ít cặn, mùi nhẹ
NT2 Cửa xả nước thải sản xuất 21°037.433' Màu đen, ít cặn, mùi nhẹ
NT3 Cửa xả nước thải sinh hoạt 21°037.104' Đục, có cặn, mùi nhẹ
NM1 Suối Huyền, 50 m thượng lưu 21°037.420' Vàng, có cặn, mùi nhẹ
NM2 Suối Huyền, 50 m hạ lưu 21°037.436' Đục, có cặn, có mùi

Technology stack phân tích (phòng thí nghiệm EJC Thái Nguyên):

Thông số Phương pháp LOD Giới hạn báo cáo
pH TCVN 6492:2011 2–12
BOD₅ SMEWW 5210D:2012 1,5 mg/L 50 mg/L
COD SMEWW 5220C:2012 2 mg/L 150 mg/L
TSS SMEWW 2540-D:2012 (sấy 103–105 °C) 7 mg/L 100 mg/L
NH₄⁺ SMEWW 4500-NH₃ F:2012 (phenat) 0,022 mg/L 10 mg/L
Fe SMEWW 3500-Fe B:2012 (AAS ngọn lửa) 0,024 mg/L 5 mg/L
As SMEWW 3114B:2012 (ETAAS) 0,5 µg/L 0,1 µg/L
Pb SMEWW 3111C:2012 9 µg/L 0,5 mg/L
Coliform SMEWW 9221B:2012 (MPN nhiều ống) 2 MPN/100 mL 5.000 MPN/100 mL
H₂S TCVN 4567:1988 0,14 mg/L 0,5 mg/L
Hg SMEWW 3112.B:2012 0,0003 mg/L

Quy trình lấy mẫu chuẩn hóa:

  • Lấy mẫu nước thải: TCVN 5999:1995 (ISO 5667-10:1992)
  • Lấy mẫu nước mặt: TCVN 6663-11:2008 (ISO 5667-6:2003)
  • Bảo quản: TCVN 6663-3:2008 (ISO 5667-3:2003)
  • Đo hiện trường: lưu tốc kế dải 0,1–4,5 m/s (độ phân giải 0,1)

Methodology

Nghiên cứu áp dụng phương pháp tuần tự (waterfall) 4 giai đoạn trong 5 tháng:

Giai đoạn Thời gian Deliverable
Thu thập tài liệu thứ cấp 08/2018 Tổng quan pháp lý, số liệu mỏ
Khảo sát thực địa 09–10/2018 Bản đồ vị trí, ảnh hiện trạng
Lấy mẫu & phân tích 11/2018 5 mẫu × 18 thông số
Tổng hợp, đánh giá 12/2018 Khóa luận, biểu đồ so sánh

Rủi ro và biện pháp giảm thiểu: Rủi ro sai lệch mẫu do vận chuyển → tuân thủ TCVN 6663-3:2008 về bảo quản lạnh và axit hóa. Rủi ro chỉ có một đợt quan trắc → kế thừa bộ số liệu quan trắc định kỳ 4 đợt/năm 2018 của mỏ.

Implementation và kết quả

Quá trình thực hiện

Quy trình khai thác tại mỏ được sơ đồ hóa kèm dòng thải:

           [ồn, chấn động, bụi, khí thải]        [nước thải, bụi]

           [nước thải hầm lò]                          [ồn, bụi, khí thải]

Mỏ sử dụng khoảng 15.000 tấn thuốc nổ/năm ở quy mô ngành, và tại Bá Sơn, đội khoan lớn 6 người + khoan con 6 người vận hành khâu phát sinh chấn động chính.

Kết quả phân tích

Nước thải trước xử lý (NT1) — QCVN 40:2011/BTNMT cột B:

Thông số Kết quả QCVN B Đánh giá
pH 7,12 5,5–9 Đạt
COD 204,8 mg/L 150 Vượt 1,37 lần
TSS 170 mg/L 100 Vượt 1,70 lần
Fe 0,102 mg/L 5 Đạt (2% ngưỡng)
S²⁻ 0,64 mg/L 0,5 Vượt 1,28 lần
As <0,0005 0,1 Đạt
Cd <0,01 0,1 Đạt
Pb <0,003 0,5 Đạt
Coliform 930 MPN/100mL 5.000 Đạt

Nước thải sau xử lý (NT2), lưu lượng 108 m³/h:

Thông số Kết quả QCVN B Hiệu suất xử lý
pH 7,07 5,5–9
COD 17,6 mg/L 150 91,4%
TSS 14 mg/L 100 91,8%
Fe <0,05 mg/L 5 >51%
S²⁻ 0,344 mg/L 0,5 46,3%
Coliform 790 MPN/100mL 5.000 15,1%

Toàn bộ 10 thông số sau xử lý đều nằm trong giới hạn QCVN 40:2011/BTNMT cột B. TSS chỉ còn 14% ngưỡng cho phép, COD còn 11,7% ngưỡng.

Nước thải sinh hoạt (NT3) — QCVN 14:2008/BTNMT cột B:

Thông số Kết quả QCVN B Tỷ lệ ngưỡng
pH 6,93 5,5–9 Đạt
TSS 81 mg/L 100 81%
BOD₅ 47 mg/L 50 94%
NH₄⁺ 9,2 mg/L 10 92%
COD 66 mg/L
Tổng N 18,6 mg/L
Tổng P 5,95 mg/L
Coliform 4.000 MPN/100mL 5.000 80%

Đây là điểm rủi ro lớn nhất: BOD₅ và NH₄⁺ đạt 94% và 92% ngưỡng — biên an toàn dưới 10%, chỉ cần biến động nhỏ về tải lượng (tăng ca, tăng lao động) là vượt chuẩn. Lưu lượng nước thải sinh hoạt 1,2 m³/ngày.đêm qua bể tự hoại 15 m³ tương ứng thời gian lưu 12,5 ngày — đủ cho lắng nhưng không đủ khử nitơ.

Đổi mới và đóng góp

1. Thiết kế quan trắc kép (dual-baseline): Kết hợp cặp NT1/NT2 (trước–sau xử lý) với cặp NM1/NM2 (thượng–hạ lưu 50 m). Cách bố trí này cho phép tách biệt hai câu hỏi thường bị trộn lẫn: "hệ thống xử lý có hiệu quả không?" và "nguồn tiếp nhận có bị suy giảm không?". Nhiều báo cáo quan trắc định kỳ chỉ lấy mẫu tại cửa xả nên không trả lời được câu hỏi thứ hai.

2. Định lượng hiệu suất thay vì chỉ so chuẩn: Thay vì kết luận nhị phân "đạt/không đạt", đề tài tính hiệu suất xử lý cho từng thông số: TSS 91,8%, COD 91,4%, S²⁻ 46,3%, Coliform 15,1%. Bức tranh này cho thấy ao lắng trọng lực hiệu quả với chất rắn nhưng gần như vô hiệu với vi sinh — kết luận không thể rút ra nếu chỉ nhìn bảng so chuẩn.

3. So sánh với hai giải pháp hiện có: So với hệ thống lắng đơn bậc phổ biến ở các mỏ nhỏ (<80% TSS) và so với xử lý AMD bằng vôi (>96% TSS nhưng chi phí hóa chất cao), ao lắng hai bậc tại Bá Sơn đạt 91,8% — cao hơn phương án 1 khoảng 12–15 điểm phần trăm với chi phí vận hành gần tương đương, và thấp hơn phương án 2 khoảng 5 điểm nhưng không phát sinh chi phí hóa chất.

4. Chỉ ra điểm mù trong quản lý: Nghiên cứu phát hiện nước thải sinh hoạt — vốn ít được chú ý so với nước thải sản xuất — mới là dòng thải có biên an toàn hẹp nhất (BOD₅ 94% ngưỡng). Đây là đóng góp thực tiễn trực tiếp cho công tác quản lý môi trường của Công ty CP Xây dựng và Khai thác than Thái Nguyên.

Ứng dụng thực tế và triển khai

Đối tượng chịu tác động: 30 hộ dân trong bán kính 30–50 m, cánh đồng xã Cổ Lũng nhận nước từ mương thoát, và hệ sinh thái suối Huyền.

Lộ trình cải thiện đề xuất:

Giai đoạn Nội dung Thời gian Kết quả kỳ vọng
Ngắn hạn Nạo vét ao lắng 01/02, tăng thời gian lưu 3–6 tháng Duy trì TSS <20 mg/L
Trung hạn Nâng cấp bể tự hoại + bãi lọc trồng cây 6–12 tháng BOD₅ <30 mg/L, NH₄⁺ <5 mg/L
Dài hạn Bổ sung khử trùng, tuần hoàn tái sử dụng 12–24 tháng Coliform <1.000, giảm 30% nước cấp

Phân tích chi phí–lợi ích: Với lưu lượng 108 m³/h (~2.591 m³/ngày ở chế độ 24 h, khớp với 2.891,45 m³/ngày.đêm gồm cả nước moong), việc tuần hoàn 30% nước sau xử lý cho tưới bụi đường vận chuyển giúp giảm đáng kể lượng nước cấp — đồng thời giải quyết chính biện pháp giảm bụi mà mỏ đang áp dụng. Chi phí nạo vét ao lắng thấp hơn nhiều so với mức phạt vi phạm hành chính và chi phí khắc phục nếu để xảy ra sự cố bục túi nước hầm lò.

Khả năng nhân rộng: Mô hình quan trắc kép có thể áp dụng cho các mỏ than antraxit quy mô nhỏ 100–200 nghìn tấn/năm nằm rải rác tại Hải Dương, Bắc Giang, Sơn La, Quảng Nam — nơi tổng sản lượng hiện không quá 200 nghìn tấn nhưng số lượng cơ sở lớn và năng lực quan trắc hạn chế.

Hạn chế và hướng phát triển

Hạn chế kỹ thuật:

  • Dữ liệu chủ yếu từ một đợt quan trắc (27/11/2018) — mùa khô, chưa phản ánh mùa mưa khi nước mưa chảy tràn qua bãi thải Tây Bắc và Đông Nam làm tăng đột biến TSS
  • Chưa phân tích nước dưới đất theo QCVN 09-MT:2015/BTNMT dù mỏ khai thác hầm lò xuống sâu
  • Chưa đo tải lượng ô nhiễm (kg/ngày) mà chỉ đo nồng độ — hai mỏ cùng nồng độ nhưng khác lưu lượng có tác động rất khác nhau
  • Một số thông số chỉ báo cáo dạng "<LOD" (As, Cd, Pb), không cho phép phân tích xu hướng tích lũy

Hướng phát triển:

  1. Quan trắc 4 đợt/năm liên tục 3 năm để phân tích chuỗi thời gian
  2. Bổ sung phân tích trầm tích suối Huyền — kim loại nặng tích lũy trong trầm tích cao hơn nhiều lần so với trong nước
  3. Nghiên cứu chỉ thị sinh học (động vật đáy) bổ trợ cho chỉ tiêu hóa lý
  4. Xây dựng mô hình lan truyền chất ô nhiễm dọc suối Huyền

Đối tượng hưởng lợi

  • Sinh viên ngành Khoa học môi trường: Bộ khung phương pháp hoàn chỉnh từ thiết kế mạng quan trắc, chọn phương pháp SMEWW/TCVN đến tính hiệu suất xử lý — có thể tái sử dụng cho khóa luận về bất kỳ loại hình khai khoáng nào
  • Cán bộ môi trường doanh nghiệp: Bảng đối chiếu 18 thông số với LOD và giới hạn báo cáo cụ thể, dùng trực tiếp khi lập kế hoạch quan trắc định kỳ
  • Cơ quan quản lý (Sở TN&MT Thái Nguyên): Bằng chứng định lượng về điểm yếu của xử lý nước thải sinh hoạt tại các mỏ nhỏ, làm căn cứ điều chỉnh trọng tâm thanh kiểm tra
  • Cộng đồng dân cư xã Sơn Cẩm, Cổ Lũng: Thông tin minh bạch về chất lượng nguồn nước tiếp nhận

Câu hỏi thường gặp

1. Cần điều kiện gì để triển khai hệ thống tương tự? Ao lắng hai bậc với dung tích đủ cho lưu lượng đỉnh 108 m³/h, hệ thống mương thu và hố ga lắng cặn, mặt bằng bê tông hóa. Không cần hóa chất hay thiết bị điện phức tạp.

2. Giới hạn về công suất là gì? Hiệu suất lắng trọng lực phụ thuộc thời gian lưu. Khi lưu lượng tăng (mùa mưa), thời gian lưu giảm tỷ lệ nghịch và hiệu suất TSS có thể tụt dưới 80%. Giải pháp: thiết kế ao lắng theo lưu lượng mùa mưa, không theo lưu lượng trung bình.

3. Tích hợp với hệ thống hiện có ra sao? Bãi lọc trồng cây có thể lắp nối tiếp sau bể tự hoại mà không cần dừng vận hành, xử lý chính BOD₅ và NH₄⁺ — hai thông số đang sát ngưỡng nhất.

4. Nhu cầu bảo trì? Nạo vét bùn ao lắng định kỳ (tần suất phụ thuộc tải lượng TSS đầu vào 170 mg/L), hút bể tự hoại, kiểm tra mương thoát trước mùa mưa.

5. Chi phí và thời gian hoàn vốn? Chi phí chủ yếu là nạo vét và nhân công, hoàn vốn gián tiếp qua việc tránh vi phạm hành chính và tiết kiệm nước cấp cho tưới bụi.

Kết luận

Khóa luận đã định lượng được ba kết quả then chốt tại mỏ than Bá Sơn năm 2018. Thứ nhất, nước thải sản xuất trước xử lý vượt QCVN 40:2011/BTNMT cột B ở ba thông số: TSS 170 mg/L (1,70 lần), COD 204,8 mg/L (1,37 lần), sunfua 0,64 mg/L (1,28 lần). Thứ hai, hệ thống ao lắng hai bậc đạt hiệu suất 91,8% với TSS và 91,4% với COD, đưa toàn bộ 10 thông số về trong giới hạn cho phép — hiệu quả xử lý khá tốt với nhóm chất rắn. Thứ ba, điểm yếu nằm ở nước thải sinh hoạt với BOD₅ 47/50 mg/L và NH₄⁺ 9,2/10 mg/L, chỉ còn biên an toàn dưới 10%.

Về đóng góp phương pháp, thiết kế quan trắc kép trước–sau kết hợp thượng–hạ lưu và việc tính hiệu suất xử lý theo từng thông số cho phép rút ra kết luận mà cách so chuẩn nhị phân thông thường bỏ sót: ao lắng trọng lực xử lý chất rắn tốt (>91%) nhưng gần như không tác động lên vi sinh vật (15,1%).

Kiến nghị ưu tiên: nâng cấp xử lý nước thải sinh hoạt trước khi mở rộng công suất khai thác, bổ sung quan trắc mùa mưa, và mở rộng sang phân tích trầm tích suối Huyền. Với tuổi thọ mỏ còn 8 năm và 30 hộ dân sinh sống cách mỏ 30–50 m, đầu tư sớm vào khâu xử lý nước là lựa chọn hợp lý cả về chi phí lẫn trách nhiệm cộng đồng.