Phần mở đầu Chƣơng 1: Giới thiệu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 5: Kết luận và một số hàm ý Kết luận 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Chương này cung cấp tổng quan chung về KTQTMT. Thảo luận về định nghĩa KTQTMT, các loại thông tin của KTQTMT, nội dung của KTQTMT. Tiếp theo chương 2 trình bày lý thuyết thể chế, lý thuyết hành động hợp lý và các nhân tố tiềm ẩn có thể ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT. Tổng quan về các nghiên cứu trước và mô hình nghiên cứu đề nghị của đề tài cũng được thảo luận trong chương này.1 KẾ TOÁN QUẢN TRỊ MÔI TRƢỜNG 2.1 Định nghĩa Kế toán quản trị môi trƣờng Theo Birkin (1996), KTQTMT là một sự phát triển tiếp theo của KTQT.
Jasch (2006) cũng giải thích rằng KTQTMT, như một hệ thống thông tin nội bộ, không tách ra khỏi KTQT; tuy nhiên KTQTMT tập trung vào dòng chảy của vật liệu, và tính chất cân bằng của dòng luân chuyển vật chất. Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC, 2005, tr.19), định nghĩa KTQTMT là ―quá trình quản lý HQKT và HQMT thông qua sự phát triển và ứng dụng hệ thống kế toán (HTKT) nội bộ phù hợp với các vấn đề MT. Trong khi KTMT trong DN nói chung có thể bao gồm cả KTTC và kiểm toán MT, KTQTMT chỉ liên quan đến CP theo chu kỳ sống, KTCP toàn bộ, đánh giá lợi ích và CP, và lập kế hoạch chiến lược cho quản lý MT". Một định nghĩa toàn diện được đề xuất bởi UNDSD (2001, tr.8), ―KTQTMT là kỹ thuật xác định, thu thập, phân tích các TTMT trong đó sử dụng cả hai loại thước đo về giá trị và hiện vật cho việc ra quyết định.
Mục đích của việc sử dụng thông tin KTQTMT là đáp ứng cho các phân tích nội bộ của tổ chức và cho việc ra quyết định‖. Quá trình xử lý thông tin của KTQTMT phục vụ cho việc ra quyết định sử dụng thước đo hiện vật (phản ánh dòng luân chuyển tiêu thụ và thải bỏ lượng nguyên liệu, năng lượng, nước) và thước đo giá trị (phản ánh CP phát sinh, doanh thu, TN, CP tiết kiệm được) liên quan đến các hoạt động có khả năng ảnh hưởng và tác động đến MT. Ngoài ra, còn có nhiều định nghĩa về KTQTMT.1 dưới đây trình bày một số định nghĩa về KTQTMT được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu trước.1 Danh mục các định nghĩa Kế toán quản trị môi trƣờng Bartolomeo và ―KTQTMT là việc ghi chép, phân tích và sử dụng thông tin tài cộng sự (2000, chính và phi tài chính để lồng ghép các chính sách kinh tế và tr.37) MT của công ty, nhằm phát triển KD bền vững‖. ―KTQTMT là phương pháp xác định, đo lường toàn bộ CPMT của các quy trình sản xuất hiện tại, cũng như đo lường CP, lợi UNDSD (2001, ích của quá trình ngăn ngừa ô nhiễm hoặc đo lường CP, lợi ích tr.8) của quy trình sản xuất sạch hơn và tích hợp các CP, lợi ích này vào việc ra quyết định KD‖.
―KTQTMT là một phương pháp tổng hợp nhằm thực hiện việc Jasch (2003, chuyển đổi dữ liệu từ KTTC sang KTCP và cân bằng dòng luân tr.668) chuyển nguyên vật liệu để tăng hiệu quả nguồn tài nguyên, giảm tác động và rủi ro MT cũng như giảm CP BVMT‖. Bouma và ―KTQTMT được xem như là một bộ phận nhỏ của KTMT đề Correlje (2003, cập đến HTKT nội bộ và các kỹ thuật cung cấp cho nhà quản trị tr.259) các thông tin tài chính và phi tài chính về tổ chức và MT‖ ―KTQTMT là quá trình quản lý HQKT và HQMT thông qua sự IFAC (2005, phát triển và ứng dụng HTKT nội bộ phù hợp với các vấn đề tr. ―KTQTMT là một trong những công cụ hiệu quả hỗ trợ thực Staniskis và hiện các sáng kiến đổi mới, hỗ trợ thực hiện hệ thống QLMT, Stasiskiene giúp xây dựng các TTMT cho DN và lựa chọn các chỉ tiêu về (2006, tr.1253) hiệu quả HĐMT‖. Nguồn: Tự tổng hợp Dù có một số khác biệt trong các định nghĩa KTQTMT về phạm vi áp dụng, nhưng hầu hết các định nghĩa đều giải thích rằng KTQTMT là một hệ thống thông tin nội bộ, bổ sung cho KTQT, nhằm cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp.
8 Định nghĩa do Bennett và James (1998) đã được lựa chọn cho các mục đích của nghiên cứu này. Theo đó, ―KTQTMT là một hệ thống thông tin nội bộ, cung cấp thông tin tiền tệ và phi tiền tệ để cải tiến và đánh giá HQKT và MT của một DN‖. Định nghĩa này làm nổi bật tầm quan trọng của thông tin được tạo ra bởi KTQTMT nhằm nâng cao HQKT và HQMT trong một tổ chức. Một tính năng quan trọng của KTQTMT là tập trung vào quản lý thông tin về giá trị và hiện vật trong quá trình ra quyết định ở một số lĩnh vực, như: cải thiện HQKT và MT, thẩm định dự án đầu tư, xây dựng các dự án sản xuất sạch nhằm đạt được sự phát triển bền vững về kinh tế và MT của các tổ chức (UNDSD, 2001; Jasch, 2006; Sendroiu và cộng sự, 2006).
Chi tiết về hai loại thông tin KTQTMT sẽ được thảo luận trong mục 2.2 Đối tƣợng của Kế toán quản trị môi trƣờng KTQTMT cung cấp TTMT theo yêu cầu của nhà quản trị trong nội bộ đơn vị, nên thông tin không nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực KT. Theo IFAC (2005, tr.1), ―KTQTMT liên quan đến CP theo chu kỳ sống, KTCP toàn bộ, đánh giá lợi ích và CP, và lập kế hoạch chiến lược cho quản lý MT". Do đó, các TTMT phục vụ cho quản trị nội bộ bao gồm: Thông tin tiền tệ, hiện vật về dòng luân chuyển của vật liệu, năng lượng, nước cũng như thông tin về CP, TN môi trường và CPMT tiết kiệm được. Như vậy, theo IFAC (2005) đối tượng của KTQTMT bao gồm: - Kế toán CPMT - Kế toán doanh thu và các khoản thu nhập môi trường - Kế toán đánh giá hiệu quả các nguồn lực 2.3 Các loại thông tin của Kế toán quản trị môi trƣờng Thực hiện và áp dụng KTQTMT trong một tổ chức phải bao gồm KT theo thước đo tiền tệ (thông tin tài chính hoặc thông tin tiền tệ) và KT theo thước đo hiện vật (thông tin phi tiền tệ) về sử dụng vật liệu, giờ lao động cũng như phương pháp xác định CPMT.
Phần tiếp theo sẽ thảo luận về hai loại thông tin tiền tệ và phi tiền tệ liên quan đến KTQTMT.1 Thông tin phi tiền tệ TTMT phi tiền tệ là các thông tin về hao phí nguyên vật liệu, năng lượng, nước,… các tài nguyên thiên nhiên, được biểu hiện bằng thước đo hiện vật (kg, m3, kwh, tấn, .) mà DN đã sử dụng cho các hoạt động kinh tế và các lượng nguyên vật liệu, năng lượng hao phí để BVMT. KTQTMT theo thước đo hiện vật (phi tiền tệ) là một công cụ phản ánh tất cả dòng vật liệu và năng lượng trong quá khứ, hiện tại và tương lai của tổ chức có tác động lên hệ sinh thái, được trình bày dưới dạng thước đo hiện vật (ví dụ đo lường điện năng sử dụng bằng số kWh, đo lường lượng nước sử dụng bằng m3). Theo IFAC (2005), KTQTMT tập trung đặc biệt vào các thông tin phi tiền tệ, bao gồm các thông tin liên quan đến vật liệu, năng lượng, nước, chất thải và khí thải vì các tác động đến MT gây ra bởi tổ chức có liên quan trực tiếp đến việc sử dụng nguyên liệu và lượng chất thải, khí thải, xả thải ra MT. Thật vậy, các tổ chức đều cần các nguồn lực như vật liệu, năng lượng và nước để hỗ trợ cho hoạt động.
Để quản lý hiệu quả các tác động MT, các tổ chức phải theo dõi và giảm thiểu lượng vật liệu, năng lượng, nước được sử dụng và lượng chất thải được tạo ra. Các thông tin hiện vật liên quan đến KTQTMT, có thể giúp một tổ chức theo dõi và kiểm soát tất cả các nguồn lực được sử dụng trong hoạt động của mình, để đảm bảo rằng các nguồn tài nguyên đó đều được đưa vào hạch toán (UNDSD, 2000; IFAC, 2005). Bên cạnh đó, những thông tin này có thể được sử dụng để tạo ra các chỉ tiêu về hiệu quả HĐMT nhằm quản lý hiệu quả HĐMT của các tổ chức (Chang, 2007). Do đó, thông tin hiện vật của KTQTMT là cần thiết để đánh giá các khoản CP liên quan đến MT, giúp tổ chức thực hiện phân tích CP đầy đủ và báo cáo hiệu quả HĐMT.2 Thông tin Tiền tệ TTMT tiền tệ của KTQTMT là các thông tin liên quan đến biểu hiện bằng tiền của các hao phí về nguyên vật liệu, năng lượng, nước,… các tài nguyên thiên nhiên mà DN đã sử dụng cho các hoạt động kinh tế và tất cả các loại CP khác liên quan đến việc BVMT.
Chi phí BVMT phát sinh qua những nỗ lực kiểm soát MT và ngăn ngừa các thiệt hại có thể xảy khi phát sinh chất thải và khí thải, ví dụ, CP vệ sinh MT, CP xử lý chất thải và khí thải (UNDSD, 2000). 10 KTQTMT theo thước đo tiền tệ là một bước mở rộng việc áp dụng KTQT truyền thống cho các vấn đề về MT trong hoạt động của DN dưới dạng tiền tệ (ví dụ CP cho việc tuân thủ các quy định của pháp luật về MT, đầu tư cho BVMT, phòng chống ô nhiễm). Theo IFAC (2005), CPMT trong hệ thống KTQTMT bao gồm CP BVMT và các CP tài chính cần thiết khác để quản lý hiệu quả HĐMT của một tổ chức. Ví dụ, CP mua nguyên vật liệu, năng lượng và nước đã được sử dụng hoặc CP xử lý chất thải trước khi xả thải ra MT.
Các tổ chức cần thông tin về CPMT để đánh giá đầy đủ các khía cạnh tài chính cho QLMT liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên và tạo ra chất thải. Thông tin KTQTMT tiền tệ đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp dữ liệu cần thiết về các dòng luân chuyển nguyên vật liệu và CP liên quan đến tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã sử dụng cũng như đã xả thải ra MT. Như vậy, các thông tin tiền tệ và phi tiền tệ của KTQTMT liên quan đến nhiều khoản mục thông tin. Một tổ chức có thể sử dụng cả thông tin KTQTMT tiền tệ và phi tiền tệ để xác định CPMT và quản lý hiệu quả HĐMT của tổ chức.4 Nội dung kế toán quản trị môi trƣờng Nội dung công tác KTQTMT trong DN được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau.