Chương 1 tổng quan các nghiên cứu trước liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị môi trường (EMA) tại các doanh nghiệp trên thế giới và Việt Nam, kết quả đạt được và những hạn chế cũng như những vấn đền cần tiếp tục nghiên cứu. Từ đó, phân tích để xác định vấn đề mà luận văn cần tập trung giải quyết. Tổng quan các nghiên cứu trước liên quan đến việc áp dụng EMA và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình này 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, khá nhiều nghiên cứu đã thực hiện về chủ đề này.
Nhiều quan điểm được sử dụng để nghiên cứu về EMA trong nhiều lĩnh vực khác nhau (Bennett và cộng sự, 2002; Bennett và cộng sự, 2003; Jasch, 2006), đặc biệt là ngành công nghiệp sản xuất (Kim, 2002; Gale, 2006). So với các ngành công nghiệp dịch vụ, sản xuất là lĩnh vực tạo ra nhiều tác động tới môi trường nhất, điều này xuất phát từ bản chất hoạt động của nó (Chang, 2008). Theo Schltegger, Gibassier và Zvezdov (2011), có hai dòng lý thuyết được các nhà nghiên cứu sử dụng chủ yếu để nghiên cứu về EMA. Thứ nhất là nhóm lý thuyết xây dựng (established theories), dùng để giải thích các hướng tiếp cận và sự phát triển của EMA.
Thứ hai là nhóm lý thuyết định hướng thực hành (practice-oriented theories) nhằm tìm kiếm các hướng tiếp cận có ích cho người thực hành. Trong nghiên cứu của mình, Schltegger và các cộng sự cho rằng phần lớn các bài nghiên cứu đều sử dụng nhóm lý thuyết thứ hai để giải thích EMA là gì, làm thế nào mà EMA góp phần vào hiệu quả môi trường cho doanh nghiệp, cũng như giải thích vì sao EMA được áp dụng. Cụ thể hơn, hai lý thuyết được vận dụng nhiều nhất là lý thuyết ngẫu nhiên (contigency theory) và lý thuyết thể chế (institutional theory). Nghiên cứu “Environmental management accounting: the significance of contigency variables for adoption” của Christ và Burritt (2012), giải thích tầm quan trọng của các biến ngẫu nhiên (contingent variables) tới việc áp dụng EMA LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 của các doanh nghiệp tại Australia.
Lý thuyết ngẫu nhiên nghiên cứu kế toán quản trị doanh nghiệp trong mối quan hệ tương tác với môi trường hoạt động của doanh nghiệp. Nói cách khác, một hệ thống kế toán quản trị thích hợp với doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm doanh nghiệp và môi trường doanh nghiệp. Do đó, trong bài nghiên cứu của mình, Christ và Burrit đã sử dụng các biến về chiến lược môi trường, cấu trúc tổ chức, ngành công nghiệp, quy mô tổ chức. Từ thông tin khảo sát các kế toán viên của các DN, nghiên cứu đã sử dụng hai mô hình hồi quy đa biến để phân tích dữ liệu.
Kết quả cho thấy, chiến lược môi trường, ngành công nghiệp và quy mô tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng EMA trong hiện tại và tương lai, trong khi đó, cấu trúc tổ chức không ảnh hưởng đến biến áp dụng EMA. Một trong những hạn chế của nghiên cứu này là đối tượng khảo sát đôi khi không có nhận thức đầy đủ về hoạt động môi trường của doanh nghiệp cũng như nghiên cứu đã không phân biệt số năm làm việc và vị trí của người tham gia khảo sát. Jamil, Mohamed, Muhammed và Ali (2014) trong nghiên cứu “Environmental management accounting practices in small medium manufacuring firms”, đã sử dụng lý thuyết thể chế để điều tra các nhân tố và rào cản ảnh hưởng đến EMA trong thực tiễn. Jamil và cộng sự cũng thực hiện thu thập dữ liệu thông qua khảo sát, tuy nhiên đối tượng là các nhà quản lý của các DN vừa và nhỏ.
Tỷ lệ phản hồi chỉ 9% cho thấy EMA cũng là một lĩnh vực kế toán mới đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Malaysia. Nghiên cứu đã sử dụng phân tích mô tả và hồi quy để phân tích mối quan hệ giữa mức độ áp dụng EMA và các biến áp lực cưỡng chế, áp lực mô phỏng và áp lực tuân thủ các quy chuẩn. Nghiên cứu đưa ra kết quả chỉ có nhân tố áp lực cưỡng chế là ảnh hưởng đáng kể đến việc áp dụng EMA, nếu áp lực cưỡng chế gia tăng thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẵn sàng thực hiện EMA. Nghiên cứu còn cho thấy hạn chế về tài chính là rào cản lớn nhất cho sự phát triển EMA tại các DNSX vừa và nhỏ.
Bên cạnh đó, yếu kém trong kiến thức và kỹ năng liên quan đến môi trường cũng như không có một hướng dẫn nào về EMA đã hạn chế việc tích hợp các vấn đề môi trường vào hệ thống kế toán. Trong bài nghiên cứu “Understanding environmental management accounting (EMA) adoption: a new institutional sociology perspective” năm 2011, Jalaludin, Sulaiman và Ahmad đã tập trung giải thích mối quan hệ giữa các áp lực thuộc lý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thuyết thể chế và việc áp dụng kế toán quản trị môi trường. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát các nhân viên kế toán được lựa chọn theo trách nhiệm liên quan đến kết quả tài chính, và tiến hành phỏng vấn chuyên sâu (semi-structured inteview). Phân tích thông tin từ bảng khảo sát cho thấy áp lực cưỡng chế không có mối quan hệ đáng kể với việc áp dụng EMA, tuy nhiên thông tin từ các cuộc phỏng vấn chuyên sâu lại cho kết quả ngược lại.
Đối với nhân tố áp lực tuân thủ quy chuẩn, phân tích bảng khảo sát cho kết quả có mối liên hệ đáng kể giữa nhân tố này và mức độ áp dụng EMA, trong khi đó kết quả từ phỏng vấn chuyên sâu lại không cho thấy mối liên hệ giữa hai biến này. Chỉ có nhân tố áp lực mô phỏng đều cho kết quả đồng nhất là không có mối liên hệ đáng kể với việc áp dụng EMA. Trước đó, một nghiên cứu khác của các tác giả trên vào năm 2006 cho thấy mức độ áp dụng MEMA thấp và áp dụng PEMA ở mức trung bình tại các DNSX Malaysia. Tuy nhiên, các nhà kế toán và quản lý môi trường ngày càng có ý thức hơn về vai trò của EMA khi mà nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng kế toán quản trị môi trường mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường cho doanh nghiệp.
Kisher (2013) thực hiện đề tài “Factors influencing environmental management accounting adoption in oil and manufacturing firms in Lybia” nhằm kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng EMA. Nghiên cứu phối hợp nhiều lý thuyết để xây dựng mô hình bao gồm: lý thuyết ngẫu nhiên (Contigency theory), lý thuyết thể chế (Institutional theory), lý thuyết về tính hợp pháp (Legitimacy theory), lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory), lý thuyết lan truyền đổi mới (DOI), mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và khuôn mẫu công nghệ, tổ chức và môi trường (TOE). Tám nhân tố mà Kisher cho rằng có thể ảnh hướng đến ý định áp dụng EMA bao gồm: chiến lược công ty, bản chất của tính chính thức (nature of formalization), văn hóa tổ chức, hỗ trợ từ nhà quản trị cấp cao, áp lực cưỡng chế, áp lực tuân thủ quy chuẩn, xem xét tính hợp pháp (legitimacy considerations) và áp lực từ các bên liên quan. Thông qua dữ liệu khảo sát từ các giám đốc tài chính và nhà quản lý môi trường của các DN, Kisher tiến hành kiểm tra phương sai, phân tích nhân tố, hồi quy đa biến.
Kết quả cho thấy tuổi, trình độ giáo dục và số năm công tác có ảnh hưởng đến ý định áp dụng EMA. Ngoài ra, các biến như tổ chức, môi trường và công nghệ cũng có tác động đáng kể đến ý định áp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 dụng EMA của doanh nghiệp. Tuy nhiên, về chiến lược kinh doanh và văn hóa tổ chức đặc trưng tại các doanh nghiệp được lựa chọn lấy mẫu ở Libya, đặc điểm phong cách quản lý tập trung lại có tác động ngược chiều đến ý định áp dụng EMA. Nghiên cứu “Factors Influencing the Adoption of Environmental Management Accounting (EMA) Practices among Manufacturing Firms in Nairobi, Kenya” của Wachira thực hiện năm 2014.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá mức độ áp dụng EMA tại các DNSX ở Nairobi. Từ đó, đo lường mức ảnh hưởng của các nhân tố (1) chi phí tuân thủ các quy định môi trường, (2) quy mô doanh nghiệp, (3) trình độ công nghệ sản xuất, (4) thời gian hoạt động của doanh nghiệp, (5) chiến lược môi trường và (6) thành quả tài chính tới mức độ áp dụng EMA trong doanh nghiệp. Wachira cũng sử dụng phương pháp bảng câu hỏi và phỏng vấn chuyên sâu để thu thập thông tin, sau đó tiến hành phân tích mô hình hồi quy đơn biến và đa biến. Kết quả phân tích cho thấy ba nhân tố có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ áp dụng EMA là chi phí tuân thủ các quy định môi trường, chiến lược môi trường và thành quả tài chính của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, một số yếu tố quyết định đến việc áp dụng EMA khác như ngành công nghiệp (industry) theo nghiên cứu của Ferreira và cộng sự (2010), áp lực từ các bên liên quan bên ngoài hay nội bộ cũng là yếu tố thúc đẩy việc áp dụng kế toán quản trị môi trường (Bennett và cộng sự, 2011). Các đối tượng này quan tâm đến vấn đề môi trường và nhận ra được tầm quan trọng của hiệu quả môi trường và bền vững đối với quản lý rủi ro trong ngắn hạn hay chiến lược mục tiêu trong dài hạn. Do đó, EMA được áp dụng để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng trên. Các nghiên cứu tại Việt Nam Thực tế, kế toán quản trị môi trường là một thuật ngữ khá mới mẻ đối với các DN Việt Nam.
Việc nghiên cứu, triển khai áp dụng EMA vào môi trường Việt Nam còn rất hạn chế. Phần lớn các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu giới thiệu về hệ thống kế toán quản trị môi trường, phân tích những kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới để hướng dẫn áp dụng kế toán môi trường tại Việt Nam. Chẳng hạn để đưa ra những giải pháp, đề xuất áp dụng EMA vào các doanh nghiệp Việt Nam, tác giả Lê Kim Ngọc (2013) trong bài nghiên cứu của mình đã giới thiệu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 và phân tích kế toán môi trường tại Nhật Bản, tác giả Trọng dương (2008) thì dựa trên tài liệu “Các nguyên tắc và trình tự kế toán quản trị môi trường” của UNSND. Nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định hệ thống kế toán môi trường là một nguồn thông tin quan trọng trong việc hỗ trợ ra quyết định của doanh nghiệp và kiểm soát một cách chặt chẽ.