CHƯƠNG 1. Tổng quan về khu công nghiệp trên thế giới 1. Sơ lược lịch sử hình thành khu công nghiệp Khu công nghiệp đầu tiên trên Thế giới ra đời vào thế kỷ thứ XIX (năm 1896) ở Trafford Park, thành phố Manchester, vương quốc Anh. Vùn công nghiệp Clearing ở thành phố Chicago, bang Illinois bắt đầu hoạt động từ năm 1899 được coi là KCN đầu tiên ở nước Mỹ.
Năm 1904, một KCN được thành lập tại thành phố Naples, Italia. Tính đến năm 1940, số KCN trên thế giới còn rất khiêm tốn và chỉ sau những năm 50 thì sự phát triển các KCN mới thực sự bắt đầu [12]. Khu công nghiệp đầu tiên ở châu Á được xây dựng ở Singapore vào năm 1951, ở Malaysia năm 1954, ở Ấn Độ năm 1955 [11]. Như vậy trên thế giới KCN đã có lịch sử phát triển trên 100 năm với những thành công và thất bại.
Việt Nam là nước đi sau phải tích cực nghiên cứu để vận dụng một cách sáng tạo và có hiệu quả những kinh nghiệm của thế giới. Khái niệm về khu công nghiệp Theo Hiệp hội các khu chế xuất thế giới (WEPZA), “khu chế xuất bao gồm tất cả các khu vực được Chính phủ các nước cho phép như cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu công nghiệp tự do hoặc bất kì khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được WEPZA công nhận”. Định nghĩa này về cơ bản đồng nhất khu chế xuất và khu vực miễn thuế. Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc UNIDO, khu chế xuất là “khu vực được giới hạn về hành chính, có khi về địa lý, được hưởng một chế độ thuế quan cho phép tự do nhập khẩu trang bị và sản phẩm nhằm mục đích sản xuất sản phẩm xuất khẩu.
Chế độ thuế quan được ban hành cùng với những quy định luật pháp ưu đãi, chủ yếu về thuế nhằm đầu tư thu hút nước ngoài” [7]. Tuy nhiên, khu chế xuất có nhiều hạn chế đối với các nhà đầu tư: do yêu cầu tăng xuất khẩu hàng hóa và nguồn thu ngoại tệ về cho đất nước, đồng thời phải bảo hộ nền sản xuất trong nước, nên các nước đều buộc xí nghiệp khu chế xuất phải xuất khẩu toàn bộ sản phẩm ra thị trường thế giới. Trong khi đó thị trường trong 4 nước có dung lượng lớn, là thị trường tiềm năng nhưng các nhà đầu tư không được tiếp cận. Có thể thấy nguyên tắc trên không phù hợp với giai đoạn phát triển mới.
Vì vậy, để khắc phục hạn chế trên đây của khu chế xuất, nhiều nước đã chuyển sang mô hình kinh tế mới uyển chuyển, năng động hơn đó chính là khu công nghiệp tập trung. Tùy điều kiện từng nước mà Khu công nghiệp có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau. Nhưng tựu trung lại, hiện nay trên thế giới có hai mô hình phát triển KCN, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về KCN. - Định nghĩa 1: KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở… Khu công nghiệp theo quan điểm này thực chất là khu hành chính – kinh tế đặc biệt như KCN Batam Indonesia, các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu.
- Định nghĩa 2: KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Đi theo quan niệm này, ở một số nước như Malaysia, Indonesia đã hình thành nhiều KCN với quy mô khác nhau [5]. Tình hình phát triển khu công nghiệp Đối với những nước đang phát triển đầu tiên đã sử dụng hệ thống KCN là Pucto Rico. Trong những năm 1943-1963, Chính phủ Puto Rica đã xây dựng 480 Nhà máy để cho các doanh nghiệp thuê với cơ sở hạ tầng phù hợp nhằm thu hút các Công ty chế biến của Mỹ, hầu hết các nhà máy tập trung trong 30 KCN.
Tại châu Á, KCN đầu tiên được khai sinh tại Singapore năm 1951, đến năm 1954 Malaysia cũng bắt đầu thành lập KCN cho đến năm 2012 đã có 311 KCN, Ấn Độ bắt đầu thành lập KCN từ năm 1955 đến năm 2012 đã có 1. Một số nước châu Á tính đến năm 2012 như: Trung Quốc có hơn 600 KCN, 32 đặc khu kinh tế và 51 khu công nghệ cao (KCNC); Indonexia có 148 KCN; Phillipine có 77 KCN; Thái Lan có 29 KCN [12]. Tổng quan về khu công nghiệp ở Việt Nam 1. Khái niệm khu công nghiệp Khái niệm khu công nghiệp ở Việt Nam đã được quy định tại Nghị định số 36-CP ngày 24/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao như sau: KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Hiện nay, khái niệm KCN được dựa trên cơ sở Quy chế về KCN ban hành kèm theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính Phủ quy định về KCN, khu chế xuất và khu kinh tế như sau: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp. Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định cụ thể. Đặc điểm khu công nghiệp 1.
Về quy mô Các KCN của Việt Nam phần lớn có quy mô diện tích nhỏ hơn 500 ha, trong đó các KCN có diện tích dưới 200 ha chiếm hơn 50%. Tính đến hết năm 2010 cả nước có 50 KCN (chiếm 19,2%) có quy mô dưới 100 ha (17 KCN của miền Bắc, 10 KCN của miền Trung và 23 KCN của miền Nam). Các KCN có diện tích từ 100-200 ha có 83 KCN, chiếm 31,9%. Các KCN có diện tích từ 200-500 ha có 102/260 KCN, chiếm 39,2%.
Các KCN có diện tích từ 500-1.000 ha có 21 KCN, chiếm 8,1%. Các KCN có diện tích lớn hơn 1.000 ha chỉ có 4/260 KCN, chiếm 1,54% và đều nằm ở các tỉnh phía Nam (Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: 3 KCN, tỉnh Long An: 01 KCN). Tình hình phát triển khu công nghiệp Theo Báo cáo của Vụ quản lý Khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 08 tháng 4 năm 2015, tính đến hết năm 2014, cả nước có 295 KCN được hình thành với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 84.000 ha, trong đó 212 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên trên 60.000 ha; các KCN còn lại đang trong giai đoạn đền bù, giải phòng mặt bằng và xây dựng cơ bản. Sự hình thành và phát triển các KCN trên toàn quốc được trình bày tại Bảng 1.
Sự hình thành và phát triển các KCN trên toàn quốc STT Năm Số lượng KCN Diện tích (ha) 1 1991 01 01 2 1995 12 2.000 Nguồn: Vụ quản lý Khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngày 08/4/2015. Sự phân bố KCN ở Việt Nam Tính đến hết năm 2014, cả nước đã có 295 KCN được hình thành, các KCN được phân bố trên 58/63 tỉnh, thành phố, tập trung chủ yếu vùng Đông Nam Bộ 98 KCN, chiếm 33%; Đồng bằng sông Hồng 76 KCN, chiếm 25%; Tây Nam Bộ 51 KCN, chiếm 17%; Duyên hải Miền Trung 41 KCN, chiếm 14%; Trung du miền núi 7 phía Bắc 26 KCN, chiếm 8%; Tây Nguyên 07 KCN, chiếm 2% [8]. Sự phân bố KCN trên địa bàn cả nước năm 2014 được trình bày tại Bảng 1. Số lượng, quy mô KCN trên địa bàn cả nước năm 2014 STT Khu vực Số lượng KCN Tỷ lệ (%) 1 Đông Nam Bộ 98 33 2 Đồng bằng sông Hồng 75 25 3 Tây Nam Bộ 51 17 4 Duyên hải Miền Trung 40 14 5 Trung du miền núi phía Bắc 24 8 6 Tây Nguyên 7 2 Tổng 295 100 Nguồn: Vụ quản lý Khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngày 08/4/2015 Mặc dù sự phân bố KCN đã được điều chỉnh theo hướng tạo điều kiện cho một số địa phương đặc biệt khó khăn ở Trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ nhằm phát triển công nghiệp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, song các KCN vẫn phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở 20 tỉnh, thành phố thuộc 3 vùng kinh tế trọng điểm.
Trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Bà Rịa-Vũng Tàu là những địa phương phát triển công nghiệp mạnh nhất trong cả nước. Khu vực này hiện có 90 KCN với diện tích 30. Trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, các KCN tập trung chủ yếu ở Hà Nội và các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên và Vĩnh Phúc với 52 KCN có diện tích 12.
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung chỉ có 23 KCN nhưng phân bố tương đối đồng đều, các tỉnh có nhiều KCN nhất là Đà Nẵng, Bình Thuận, Phú Yên, Quảng Nam. Sự phân bố các doanh nghiệp trong KCN ở Việt Nam không đều, dao động rất lớn giữa các doanh nghiệp trong một tỉnh cũng như giữa các tỉnh. Ngoài ra, số lượng doanh nghiệp trong KCN cũng không theo quy mô diện tích KCN. Tỷ lệ lấp đầy Tính đến hết năm 2014, các KCN trên cả nước đã cho thuê hơn 26.036 ha đất 8 công nghiệp, tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 48%.
Riêng các KCN đã đi vào hoạt động đạt tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê gần 66% [8]. Tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp khá đồng đều giữa các vùng trên cả nước. Tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp tính chung cho các KCN đã vận hành và đang xây dựng cơ bản của các vùng từ 50%-60%; nếu tính riêng các KCN đã vận hành thì thường ở mức 65%-75%. Một số vùng phát triển KCN từ lâu như Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp đã vận hành cao (Đông Nam Bộ (cả Long An) là 73%; Đồng bằng sông Hồng là 73%; Đồng bằng sông Cửu Long là 89%) [8].