Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hệ thống giao dịch phát thải và lý thuyết hành vi có kế hoạch Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và phân tích kết quả Chương 5: Hàm ý chính sách Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG GIAO DỊCH PHÁT THẢI VÀ LÝ THUYẾT HÀNH VI CÓ KẾ HOẠCH 2. Cơ sở lý luận về hệ thống giao dịch phát thải và lý thuyết hành vi có kế hoạch 2. Hệ thống giao dịch phát thải • Khái niệm: Với HTGDPT, hàng hóa được giao dịch là các tín chỉ carbon hoặc các hạn ngạch phát thải KNK. Căn cứ khoản 35 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020 thì tín chỉ carbon là chứng nhận có thể giao dịch thương mại và thể hiện quyền phát thải một tấn khí carbon dioxide (CO2) hoặc một tấn khí carbon dioxide (CO2) tương đương.
Theo khoản 33 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020 thì “hạn ngạch phát thải KNK là lượng KNK của quốc gia, tổ chức, cá nhân được phép phát thải trong một khoảng thời gian xác định, được tính theo tấn khí carbon dioxide (CO2) hoặc tấn khí carbon dioxide (CO2) tương đương”. Như vậy, có thể hiểu dù là giao dịch hạn ngạch hay tín chỉ phát thải thì HTGDPT cũng là nơi để các bên trao đổi, mua bán quyền được phát thải KNK ra môi trường. Các bên dư thừa quyền phát thải có thể đem bán quyền phát thải của mình trên thị trường cho các bên thiếu hụt quyền phát thải để có thể tiếp tục hoạt động sản xuất và kinh doanh. Hoạt động mua bán quyền phát thải này sẽ giúp thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và giúp phát triển bền vững trong tương lai.
• Phân loại hệ thống giao dịch phát thải: Có hai loại HTGDPT là thị trường bắt buộc và thị trường tự nguyện. Một số HTGDPT bắt buộc hiện nay có thể kể tới chương trình loại bỏ KNK của bang New South Wales, Úc; chương trình thương mại phát thải của Na Uy; và cơ chế thương mại phát thải của New Zealand. Với hệ thống này, các tổ chức, công ty phát thải ra môi trường vượt quá mức cho phép phải mua thêm tín chỉ carbon 7 được giao dịch trên thị trường để có thể tiếp tục phát thải. Hệ thống trên được gọi là hệ thống trần và giao dịch (cap-and-trade system).
Điều này nhằm đảm bảo mức phát thải của các tổ chức sẽ có thể được cắt giảm xuống mức đã được thống nhất chung. Với HTGDPT bắt buộc, các chủ thể giao dịch trên thị trường là các công ty chịu quy định bắt buộc phải giới hạn mức độ phát thải KNK. Nếu một công ty phát thải chạm mức quy định, họ bắt buộc phải mua lại tín chỉ carbon từ các công ty có thừa tín chỉ. Các công ty sẽ giao dịch với nhau trên thị trường hoặc thông qua các trung gian.
Trên thế giới, tín chỉ carbon bắt buộc đang nhắm đến các đơn vị phát thải sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch bao gồm nhà máy lọc dầu, các công ty sản xuất và chế biến sắt thép, những công ty sản xuất các mặt hàng như xi măng, thủy tinh và gốm sứ và ngành công nghiệp giấy và bột giấy. Bên cạnh hệ thống bắt buộc còn tồn tại một HTGDPT khác là HTGDPT tự nguyện. Đây là một hệ thống không chính thức hoạt động song song với HTGDPT bắt buộc và được quản lý bởi sự kết hợp của các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức thuộc khu vực tư nhân. Hệ thống này cho phép các doanh nghiệp, các chính phủ, tổ chức phi chính phủ và các cá nhân để bù đắp lượng khí thải của họ bằng cách mua các khoản bù đắp đã được được tạo ra thông qua cơ chế phát triển xanh (là cơ chế đầu tư vào các dự án giảm thiểu khí phát thải).
HTGDPT tự nguyện góp phần giảm thiểu khí phát thải bên cạnh thị trường bắt buộc được hình thành từ các quy định. Trên HTGDPT tự nguyện, các công ty không phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật buộc họ phải hạn chế lượng khí thải carbon của họ. Với hệ thống này, bên mua điển hình có thể là một công ty bất kỳ đã cam kết trung hòa carbon. Không có bất cứ quy định pháp luật hay vấn đề tài chính nào thúc đẩy các công ty trên mua quyền phát thải.
Nhiều công ty, điển hình là những công ty lớn, tìm cách trung hòa carbon như một phần của chiến lược quản trị xã hội môi trường (ESG) nhằm hướng tới phát triển bền vững hoặc đáp ứng yêu cầu có thể có của các cơ quan quản lý trong tưởng lai và phòng tránh việc quyền phát thải trong tương lai sẽ tăng giá mạnh. Một số công ty khác xem việc mua quyền phát thải và trung hòa carbon là một cách để có những thông tin, góc nhìn tốt của 8 xã hội về công ty. Một số khác thì mua quyền phát thải vì cả hai lý do trên. Những bên bán quyền phát thải HTGDPT tự nguyện có thể là các dự án làm giảm thiểu carbon như nhà máy thủy điện công suất lớn hay thậm chí các dự án nhỏ hơn dựa vào cộng đồng như bếp/lò sạch, thân thiện với môi trường.
Có các dự án nhằm mục đích triệt tiêu hoặc giảm thiểu lượng khí thải trực tiếp từ các quá trình công nghiệp, triệt tiêu các chất phá hủy tầng ôzôn, hoặc xử lý nước thải. Ngoài ra còn có các dự án dựa vào thiên nhiên bao gồm hấp thụ đất hoặc trồng rừng. Các bên thực hiện dự án sau khi được chứng nhận và được cấp tín chỉ carbon thì có thể bán các tín chỉ này trên thị trường để kiếm lợi nhuận. Hai hệ thống tự nguyện và bắt buộc này không bài trừ lẫn nhau mà sẽ có thể hỗ trợ nhằm mục tiêu chung là trung hòa carbon.
• Tác động của hệ thống giao dịch phát thải lên nền kinh tế và môi trường: Về tác động của HTGDPT, có thể thấy mặc dù HTGDPT sẽ gây tổn thất tới một số loại hình doanh nghiệp, tuy nhiên khi được thực hiện HTGDPT sẽ giúp giảm thiểu lượng carbon phát thải ròng ra môi trường, từ đó giúp cải thiện chất lượng môi trường, phòng tránh, giảm thiểu những tác động xấu do biến đổi khí hậu gây ra và cũng có tác động tốt tới một số loại hình doanh nghiệp. Bên cạnh đó, HTGDPT cũng mang lại lợi ích giúp thúc đẩy các công ty cải tiến, áp dụng công nghệ xanh vào việc sản xuất và kinh doanh của mình. Đầu tiên phải kể tới vai trò của HTGDPT trong việc giảm thiểu các vấn đề về môi trường. Các lý thuyết kinh tế cho rằng HTGDPT sẽ là công cụ hỗ trợ đạt được mục tiêu giảm phát thải với chi phí thấp nhất.
Ngược lại, khi áp dụng thị trường giao dịch carbon sẽ có lợi nếu số tiền thu được từ bán hạn ngạch phát thải được sử dụng để tài trợ cho đầu tư công bổ sung cũng như giảm thuế thu nhập. Theo nghiên cứu về thị trường carbon châu Âu (EU), mức giá carbon 20 USD/tấn CO2 không có tác động bất lợi đối với nền kinh tế. HTGDPT cũng được cho là sẽ hỗ trợ quá trình chuyển đổi năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch sang các nguồn tái tạo. Năng lượng gió, năng lượng mặt trời và thủy điện dự trữ là những ví dụ về các nguồn năng lượng phi carbon sẽ mang lại tiềm năng phát triển.
Tránh lãng phí là rất quan trọng khi đầu tư vào các nhà máy điện than hiện nay để ngăn chặn 9 sự lỗi thời của chúng trong 10-15 năm tới do không thể cạnh tranh về giá với các nguồn năng lượng khác. khối lượng mới. Trong giai đoạn phục hồi sau COVID- 19, việc triển khai HTGDPT sẽ khuyến khích đầu tư vào tính bền vững. Trong Bài luận văn của Li & Jia (2016), tác giả đã chỉ ra tác động của HTGDPT đến nền kinh tế và môi trường.
Tuy rằng HTGDPT đã gây ra một số tổn thất về kinh tế trước mắt như: tổn thất GDP là 2,34 nghìn tỷ nhân dân tệ hay 2,56% trong kịch bản HTGDPT so với kịch bản không có HTGDPT vào năm 2030. Xi măng công nghiệp, ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất, sẽ giảm 14,96–18,24% về sản xuất, tiếp theo là điện, kim loại màu, thép và hóa chất tăng lần lượt khoảng 9,35%, 8,80%, 7,01% và 4,39%. Chi phí giảm CO2 là 84,15 USD/tấn-CO2. Về mặt năng lượng: tiêu thụ than sẽ bắt đầu có tăng trưởng âm (-0,09%) vào năm 2025.
Tiêu thụ than sẽ giảm 30,19% tuy nhiên dầu mỏ và khí tự nhiên sẽ tăng lên 1,00% và 3,37% vào năm 2030 do hiệu ứng thay thế. Giá carbon sẽ tăng bằng cách giảm mức hạn ngạch phát thải tự do. Tuy nhiên, các yếu tố hạn chế của các ngành công nghiệp phát thải nhiều KNK kể trên cũng giúp cải thiện vấn đề về môi trường. Đồng thời, có thể trong dài hạn, HTGDPT lại khuyến khích phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn.
Do đó, cũng theo Li & Jia (2016) đối với các tác động môi trường, HTGDPT lại mang tới các tác động tích cực như: khí thải CO2 sẽ đạt đỉnh vào năm 2025 bằng cách thực hiện HTGDPT và mức phát thải cao nhất là 8,21 tỷ tấn, sẽ giảm phát thải CO2 20,02 tỷ tấn từ 2017 đến 2030, tương đương 59,60% tổng lượng phát thải CO2 của thế giới năm 2010. Điều này sẽ đáp ứng mục tiêu trong Thông báo chung Hoa Kỳ-Trung Quốc về Biến đổi Khí hậu. Do đó, với HTGDPT, Trung Quốc kỳ vọng đỉnh carbon sẽ đạt được trước năm 2030. Một Bài luận văn khác của Lin & Jia (2017) cũng chỉ ra các điều tương tự.
Tác giả kết luận lượng khí thải CO2 sẽ được giảm đáng kể và đạt đến mức đạt đỉnh vào năm 2030. Trong 3 năm đầu, GDP sẽ giảm từ 0,26 - 0,29%, sau đó các tác động tiêu cực sẽ giảm dần xuống 0,16% vào năm 2030. Tiêu thụ năng lượng sẽ giảm 12,80%. Tác giả cũng cho rằng các công ty thuộc ngành xây dựng và điện là những người mua lớn nhất trên HTGDPT.
Bên cạnh đó, với HTGDPT các doanh nghiệp được khuyến khích cắt giảm lượng khí thải carbon thông qua việc 10 sử dụng định giá carbon cho đến khi chi phí cận biên của việc làm đó tương ứng với giá carbon. Hiệu ứng KNK sẽ giảm bớt bằng cách giảm lượng khí thải carbon, điều này sẽ có tác động tích cực đến việc ngăn ngừa biến đổi khí hậu. Nói cách khác, định giá carbon sẽ làm giảm tác hại do biến đổi khí hậu gây ra, bao gồm mực nước biển dâng, lũ lụt, hạn hán và thời tiết khắc nghiệt.