MỞ ĐẦU Ngày 15 tháng 11 năm 2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW về bảo vệ môi trƣờng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết đã tạo ra một bƣớc chuyển biến lớn trong hoạt động bảo vệ môi trƣờng. Các Bộ, ngành và địa phƣơng đã tổ chức triển khai các hoạt động về bảo vệ môi trƣờng, thực hiện tăng mức đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc cho hoạt động bảo vệ môi trƣờng không dƣới 1% tổng chi ngân sách nhà nƣớc. Các hoạt động bảo vệ môi trƣờng từng bƣớc đƣợc đẩy mạnh, đồng thời tạo bƣớc chuyển biến căn bản về nhận thức và trách nhiệm của các nhà quản lý, doanh nghiệp, cá nhân và cộng đồng xã hội trong công tác bảo vệ môi trƣờng.
Hệ thống chính sách pháp luật về bảo vệ môi trƣờng đƣợc ban hành và ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, hoạt động bảo vệ môi trƣờng vẫn còn nhiều bất cập. Một số Bộ, ngành đầu tƣ cho hoạt động bảo vệ môi trƣờng vẫn còn dàn trải, chƣa tập trung vào giải quyết các vấn đề môi trƣờng bức xúc, trọng điểm thuộc phạm vi đơn vị chủ trì. Chính sách về bảo vệ môi trƣờng bộc lộ một số tồn tại cần phải điều chỉnh, bổ sung kịp thời nhằm đáp ứng và thích hợp với sự phát triển của các ngành công nghiệp, sự phát triển nhanh của các khu đô thị, khu dân cƣ và sự phát triển kinh tế - xã hội.
Do đó, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trƣờng trung ƣơng” là cần thiết, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng của nƣớc ta. Mục tiêu: - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh phí sự nghiệp môi trƣờng trung ƣơng. - Đề xuất một số giải pháp trong công tác quản lý, sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp môi trƣờng trung ƣơng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc 1 z về môi trƣờng của nƣớc ta. Nôi dung: - Thu thập các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý kinh phí sự nghiệp môi trƣờng.
- Thu thập thông tin về hiện trạng quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trƣờng; - Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trƣờng; - Phân tích những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trƣờng; - Đề xuất sửa đổi một số nội dung, phƣơng pháp quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trƣờng. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ KINH PHÍ MÔI TRƢỜNG 1. Khái niệm kinh phí sự nghiệp môi trƣờng Kinh phí sự nghiệp môi trƣờng không phải là khái niệm thông dụng trong lĩnh vực quản lý tài chính công trên thế giới. Ở nƣớc ta, khái niệm “Kinh phí sự nghiệp môi trƣờng” đƣợc định nghĩa theo quy định hiện hành là kinh phí cho “thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trƣờng do ngân sách nhà nƣớc bảo đảm”, quy định tại Thông tƣ liên tịch số 45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 10 tháng 3 năm 2010 của liên Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng về việc hƣớng dẫn quản lý nguồn kinh phí sự nghiệp môi trƣờng.
Khái niệm đầu tƣ Đầu tƣ hiểu theo nghĩa chung nhất là sự bỏ ra một khoản tiền (chi phí, kinh phí) cho một việc nào đó nhằm đạt đƣợc các mục tiêu nhất định. Nhƣ vậy, đầu tƣ cho bảo vệ môi trƣờng là khoản tiền (chi phí, kinh phí) cho hoạt động bảo vệ môi trƣờng nhằm đạt đƣợc mục tiêu về bảo vệ môi trƣờng. Ở cấp độ quản lý vĩ mô, đầu tƣ cho bảo vệ môi trƣờng là khoản tiền mà nhà nƣớc chi ra, thƣờng là từ nguồn ngân sách nhà nƣớc cho mục tiêu bảo vệ môi trƣờng. Ở nhiều nƣớc, các khoản chi từ ngân sách nhà nƣớc cho mục tiêu bảo vệ môi trƣờng thƣờng phân biệt thành hai khoản: khoản chi thƣờng xuyên (thƣờng là các khoản cố định hàng năm) và khoản chi không thƣờng xuyên (thƣờng là các khoản mua sắm trang thiết bị, tài sản, xây dựng cơ bản).
Ở Việt Nam, theo Luật Ngân sách nhà nƣớc, khoản chi thƣờng xuyên đƣợc gọi là chi sự nghiệp và khoản chi không thƣờng xuyên đƣợc gọi là chi đầu tƣ phát triển. Ở cấp độ quản lý vi mô (doanh nghiệp), đầu tƣ cho bảo vệ môi trƣờng là khoản tiền mà doanh nghiệp bỏ ra để hình thành tài sản của mình cho mục tiêu bảo vệ môi trƣờng. Khái niệm ngân sách nhà nƣớc Ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc, trong đó có nhiệm vụ bảo vệ môi trƣờng. Chi ngân sách nhà nƣớc cho sự nghiệp môi trƣờng là quá trình phân phối sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ ngân sách nhà nƣớc để duy trì, phát triển sự nghiệp bảo vệ môi trƣờng theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp.
Khái niệm hoạt động bảo vệ môi trƣờng Hoạt động bảo vệ môi trƣờng là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trƣờng; ứng phó sự cố môi trƣờng; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trƣờng; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trƣờng trong lành. Khái niệm cơ chế phân bổ nguồn kinh phí Cơ chế phân bổ nguồn kinh phí là những quy định của cơ quan có thẩm quyền để triển khai thực hiện, quản lý nguồn kinh phí sự nghiệp môi trƣờng; là mối quan hệ điều phối, phối hợp giữa các Bộ, ngành liên quan, giữa Bộ, ngành đó với Chính phủ và các cơ quan công quyền và các tổ chức sử dụng nguồn kinh phí. TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH CHO MÔI TRƢỜNG CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI Hiện tại, trong các tài liệu quốc tế chƣa có một định nghĩa cho khái niệm chi ngân sách cho môi trƣờng. Tuy vậy, các khoản chi tiêu nhằm mục tiêu BVMT thƣờng bao gồm 4 mảng sau: Ngân sách nhà nƣớc, bao gồm ngân sách Trung ƣơng và địa phƣơng; Chi cho môi trƣờng trong khu vực dịch vụ công nghiệp môi trƣờng, bao gồm khu vực tƣ nhân và Nhà nƣớc; Chi cho môi trƣờng của doanh nghiệp; Chi cho môi trƣờng do các hộ gia đình.
Do không có định nghĩa thống nhất về chi môi 4 z trƣờng nên khó có thể so sánh một cách tuyệt đối mức chi môi trƣờng giữa các nƣớc. Nghiên cứu này tập trung so sánh các nƣớc có khái niệm chi cho môi trƣờng gần giống nhau, cụ thể là chỉ so sánh phần chi ngân sách sự nghiệp môi trƣờng. Số liệu đƣợc lấy từ các nguồn có độ tin cậy cao nhƣ các tổ chức thống kê của Liên minh Châu Âu, Liên Hợp quốc và các tạp chí khoa học [17]. Mức chi cho môi trƣờng a) So sánh mức chi theo GDP Tổng chi cho bảo vệ môi trƣờng của các nƣớc thuộc khối liên minh châu Âu EU là 1,77% GDP, trong đó ngân sách nhà nƣớc chiếm 0,44%; ngành công nghiệp dịch vụ môi trƣờng chiếm 0,86% và doanh nghiệp chiếm 0,47%.
Có xu hƣớng chuyển dịch chi BVMT từ nhà nƣớc sang ngành công nghiệp dịch vụ môi trƣờng. Số liệu thống kê năm 2006 cho thấy, khu vực nhà nƣớc giảm từ 0,7% xuống còn 0,44% GDP trong khi công nghiệp dịch vụ môi trƣờng tăng từ 0,8% lên 0,86% GDP. Nguyên nhân của sự chuyển dịch này là sự tăng cƣờng tham gia của doanh nghiệp và ngành công nghiệp môi trƣờng. Thực tế, phần lớn các nƣớc phát triển trên thế giới, nguồn tài chính chi cho hoạt động BVMT đƣợc thống kê theo phần trăm GDP.
Các nƣớc đang phát triển và trong đó có Việt Nam, nguồn tài chính chi cho hoạt động BVMT đƣợc thống kê theo phần trăm chi từ ngân sách nhà nƣớc. Kết quả điều tra từ 39 nƣớc cho thấy, mức chi bình quân từ ngân sách nhà nƣớc cho môi trƣờng là 0,55%GDP. Cao nhất là Jordan 3,7%, tiếp đó là Butan 1,94%, Trung Quốc 1,49%, Đan Mạch 1,09%. Thấp nhất là Ghana 0,02%.
Trong khu vực châu Á, cao nhất là Trung Quốc 1,49%, Nhật 0,44%, Hàn Quốc 0,39%. Chi cho môi trƣờng của Việt Nam năm 2010 là 0,386%, cao hơn Lào 0,06% và Thái Lan 0,2% (Hình 1). So sánh mức chi theo tỷ lệ %GDP mới chỉ phản ánh đƣợc một phần bản chất của nguồn tài chính dành cho môi trƣờng. b) So sánh theo mức chi trên bình quân đầu người Phân tích cho thấy mức chi trung bình trên bình quân đầu ngƣời của 27 nƣớc 5 z có số liệu thống kê là 111 USD/ ngƣời.
Cao nhất là Hà Lan (597 USD/ngƣời), tiếp đó là Thụy Sỹ (380 USD/ngƣời). Thấp nhất là Lào (0,3 USD/ngƣời) (Hình 2). Hình 1: Chi tiêu môi trường của khu vực nhà nước tính theo % GDP Hình 2. Mức chi cho môi trường tính theo bình quân đầu người (đơn vị USD) của 27 nước có số liệu thống kê 6 z So với một số nƣớc trong khu vực (Hình 3), mức chi của Việt Nam chỉ cao hơn mức chi của Lào (0,3 USD/ngƣời), thấp hơn mức chi của Nhật Bản (168 USD/ngƣời), Hàn Quốc (68 USD/ngƣời), Trung Quốc (50 USD/ngƣời), Thái Lan (8 USD/ngƣời).
Hình 3: Mức chi môi trường khu vực nhà nước bình quân đầu người (đơn vị USD) của một số nước châu Á Nếu tính chi cho môi trƣờng theo tỷ lệ % GDP thì mức của Việt Nam thấp hơn mức chi trung bình của các nƣớc, ở mức 69% mức chi trung bình này (Hình 4). Nếu tính chi cho môi trƣờng theo bình quân đầu ngƣời thì mức chi ở Việt Nam ở mức rất thấp, chỉ ở mức 4% của mức trung bình (Hình 5). So sánh giữa mức chi cho môi trường của Việt Nam với mức chi trung bình của các nước (tính theo tỷ lệ % GDP) Hình 5. So sánh giữa mức chi cho môi trường của Việt Nam với mức chi trung bình của các nước (tính theo bình quân đầu người) 2.
Phƣơng thức chi Ngân sách cho môi trƣờng đƣợc chi theo các vấn đề môi trƣờng ƣu tiên của từng quốc gia. Trong các nƣớc thuộc khối EU, ngân sách nhà nƣớc chủ yếu dành cho xử lý chất thải rắn và nƣớc thải. Một điểm đáng lƣu ý là gần đây, các nƣớc có xu hƣớng tăng quyền kiểm soát và điều phối chi ngân sách cho môi trƣờng cho cơ quan quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng cấp Trung ƣơng. Ví nhƣ ở Hàn Quốc, tỷ lệ chi ngân sách do Bộ Môi trƣờng đảm nhận tăng từ 40% năm 2003 lên 80% năm 2005 và 98% năm 2007 (Hình 6).