Chương 1: Tổng quan công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường tại tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường tại tỉnh Quảng Ninh. TỔNG QUAN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ NGUỒN KINH PHÍ SỰ NGHIỆP MÔI TRƯỜNG 1.
Những khái niệm chung 1. Khái niệm về quản lý và quản lý nhà nước 1. Khái niệm về quản lý Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Dưới đây là một số khái niệm về quản lý: - Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm".[55] - Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”.[55] - Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định".[55] - Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích". Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công".[55] Theo nghĩa rộng: Quản lý là hoạt động có mục đích của con người, Các Mác đã nói về vai trò quản lý như người chỉ huy dàn nhạc “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung thực hiện trên qui mô tương đối lớn ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý”.[9] Quản lý bao giờ cũng được xem : "Là một hệ thống bao gồm hai phân hệ: Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính 8 chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hiệp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung". Khái niệm về quản lý nhà nước Quản lý xã hội xét về thực chất là việc xem người điều khiển con người, là quan hệ giữa con người với con người trong quản lý. Chủ thể quản lý xã hội là con người cùng với các cơ quan do con người lập ra, trong đó Nhà nước là chủ thể chủ yếu, quyết định. Với tư cách là chủ thể quản lý, cơ quan quản lý Nhà nước thể hiện bằng quyền lực và các chuẩn mực pháp lý.
Đối tượng quản lý có nghĩa vụ phục tùng. Như vậy: "Quản lý Nhà nước là sự tác động điều khiển mang tính quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc dân chủ, có căn cứ khoa học, được tiến hành một cách liên tục nhằm làm cho các hoạt động của xã hội, các hành vi hoạt động của con người, của các tổ chức xã hội tuân theo đúng qui luật khách quan của sự phát triển xã hội". Khái niệm môi trường, bảo vệ môi trường và chức năng của môi trường 1. Khái niệm môi trường, bảo vệ môi trường "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật".
[16] "Hoạt động BVMT là hoạt động giữ cho MT trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với MT, ứng phó sự cố MT; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện MT; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học. Chức năng của môi trường (1). Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên Tài nguyên thiên nhiên (sau đây gọi tắt là TNTN) bao gồm cả tài nguyên tái tạo, tài nguyên không tái tạo và các dạng thông tin mà con người khai thác, sử dụng đều chứa đựng trong MT. Môi trường là nơi chứa phế thải Trong mọi hoạt động của con người từ quá trình khai thác tài nguyên cho sản xuất chế biến tạo ra sản phẩm, đến quá trình lưu thông và tiêu dùng đều có phế thải.
Phế thải bao gồm nhiều dạng (dạng khí, rắn, lỏng, tiếng ồn,. Tất cả phế thải đều được thải vào MT. Môi trường là không gian sống và cung cấp các dịch vụ cảnh quan Con người chỉ có thể tồn tại và phát triển trong không gian MT. Không gian MT là hữu hạn, trong khi dân số loài người đã và đang gia tăng theo cấp số nhân.
Như vậy không gian môi trường mỗi người được hưởng sẽ giảm xuống và chất lượng môi trường suy giảm nhanh chóng. Sự thoả mãn các nhu cầu dịch vụ của con người cũng giảm. Các chức năng chủ yếu của môi trường đối với con người - Chức năng xây dựng - Chức năng vận tải - Chức năng sản xuất CUNG KHÔNG - Chức năng giải CẤP TÀI GIAN trí NGUYÊN SỐNG - Rừng tự nhiên - Các thuỷ vực - Động và thực vật - Không khí, nhiệt độ, ánh sáng mặt trời - Ghi chép và lưu - Các loại quặng… trữ lịch sử địa chất, MÔI TRƯỜNG dầu mỏ lịch sử tiến hoá - Chỉ thị không gian - Lưu trữ và cung cấp nguồn gen, các hệ sinh thái CHỨA LƯU TRỮ ĐỰNG VÀ CUNG CHẤT CẤP THẢI THÔNG - Chức năng biến TIN đổi lý- hoá học - Chức năng biến đổi sinh hoá - Chức năng biến đổi sinh học Nguồn: GS. Lê Văn Khoa, (2005), “Giáo trình Khoa học Môi trường”.
Khái niệm về quản lý môi trường và quản lý nhà nước về môi trường "Quản lý môi trường (sau đây gọi tắt là QLMT) là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia". [8] "Quản lý Nhà nước về BVMT là một nội dung cụ thể của quản lý Nhà nước. Đó là việc sử dụng các công cụ quản lý trên cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm đảm bảo giữ cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường". [19] "Quản lý Nhà nước về BVMT xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia".
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường - Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người. - Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất. Các khía cạnh của PTBV bao gồm: PTBV kinh tế, bảo vệ các nguồn TNTN, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng MT sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội. - Xây dựng các công cụ có hiệu lực QLMT quốc gia và các vùng lãnh thổ.
Công cụ phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư. Công cụ quản lý môi trường Công cụ QLMT là các biện pháp hành động thực hiện công tác QLMT của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau. Công cụ quản lý môi trường phân loại theo chức năng, gồm: - Công cụ điều chỉnh vĩ mô là luật pháp và chính sách.
- Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định xử phạt,. Công cụ hành động là 11 vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường trong công tác BVMT. Thuộc về loại này có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi trường. - Công cụ hỗ trợ là công cụ kinh tế.
Công cụ quản lý môi trường phân loại theo bản chất, gồm: - Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách MT quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương. - Công cụ kinh tế gồm các loại thuế tài nguyên; thuế/phí môi trường; giấy phép và thị trường giấy phép môi trường; hệ thống đặt cọc - hoàn trả; ký quỹ môi trường; trợ cấp môi trường; nhãn sinh thái; quỹ môi trường đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường. - Công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường.
Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, monitoring môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào. - Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường: Đây là công cụ quản lý môi trường gián tiếp và rất cần thiết, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Nguồn tài chính cho bảo vệ môi trường Môi trường được xác định là một trong ba trụ cột quan trọng của PTBV.
Trong QLNN đối với phát triển, BVMT thuộc loại hoạt động công cộng cần Nhà nước quan tâm đầu tư tài chính, bởi hai lý do, một là vai trò quan trọng của MT trong PTBV và hai là BVMT đến nay chưa phải là lĩnh vực đem lại mức lợi nhuận hấp dẫn để thu hút sự đầu tư tư nhân. Chính vì vậy, Nhà nước cần đầu tư tài chính cho lĩnh vực BVMT và quy mô, phạm vi của đầu tư này phụ thuộc vào quy mô, phạm vi của nhu cầu, yêu cầu BVMT và sự tham gia của tư nhân, của cộng đồng 12 trong xã hội.