CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐỊA HÌNH ĐỊA MẠO 1.1 Vị trí địa lý Thành phố Cần Thơ có vị trí địa lý tại trung tâm vùng ĐBSCL, là điểm giao nhau của vùng Tây Nam sông Hậu với vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Bắc sông Tiền và vùng trọng điểm phía Nam. Thành phố nằm giữa một mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, cách biển Đông 80 km, cách thủ đô Hà Nội 1.800 km và cách thành phố Hồ Chí Minh 170 km (theo đường bộ). Tọa độ địa lý: 9o55’08” – 10o19’38” vĩ Bắc; 105o13’38” – 105o50’35” kinh Đông, - Phía Bắc giáp An Giang; - Phía Nam giáp Hậu Giang; - Phía Tây giáp Kiên Giang; - Phía Đông giáp 02 tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp. Bản đồ hành chính thành phố Cần Thơ 1.2 Địa hình địa mạo Nhìn chung, địa hình Tp.Cần Thơ thuộc diện thấp và khá bằng phẳng.
Cao độ trung bình biến thiên trong khoảng 0.80 m và có thể chia ra hai vùng như sau: 6 Vùng I (vùng Ven sông): được giới hạn bởi sông Hậu, kênh Cái Sắn, kênh Bốn Tổng; kênh Đứng; kênh Bà Đầm, có cao độ biển đổi từ 0.0 m, hướng dốc chính từ Đông sang Tây. Các khu vực có nền địa hình cao (từ 1.5 m ) là dải đất nằm dọc bờ sông Hậu, quốc lộ I và QL 90, các khu vực thấp, có cao độ biển đổi từ 0.7m gồm nông trường Sông Hậu, phía Đông rạch Cần Thơ thuộc các xã Giai Xuân, Tân Thới, Thới An và phía Đông kênh 4000. Vùng II (vùng Trung Tâm): tiếp giáp với vùng I tới ranh của Tp.Cần Thơ và Kiên Giang có cao độ biến đổi từ 0.1m, hướng dốc chính từ Bắc - Nam, và từ Đông - Tây, nơi cao nhất là vùng Thạnh An, Thạnh Thắng, nông trường Cờ Đỏ, Thới lai, Đông Tân Hiệp, có cao độ từ 0,7 - 1,0m.2 ĐỊA CHẤT THỔ NHƯỠNG Vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và khu vực Tp. Cần Thơ nói riêng được hình thành bởi các loại trầm tích nằm trên nền đá gốc Mezoic xuất hiện từ độ sâu gần mặt đất ở phía Bắc đồng bằng cho đến khoảng 1.000 m ở gần bờ biển.
Các dạng trầm tích có thể chia thành những tầng chính sau: Tầng Pleitocene (Q I-III): có chứa cát sỏi lẫn sét, bùn với trầm tích biển. Tầng Holocene (Q IV): nằm trên mặt, thuộc loại trầm tích trẻ, bao gồm sét và cát. Thành phần hạt từ mịn đến trung bình. Tầng Miocene (N1): có chứa sét và cát hạt trung bình.
Tầng Pliocene (N2): có chứa sét lẫn cát hạt trung bình. Các công trình thủy lợi và hạ tầng cơ sở phần lớn được xây dựng trên tầng Holocene nơi có các trầm tích mềm yếu. Tầng này có hàm lượng sét cao, lẫn nhiều tạp chất hữu cơ, thường ở trạng thái bão hòa nước nên khả năng chịu tải kém. Đất đai Tp.
Cần Thơ gồm 3 nhóm chính: Đất phù sa, đất phèn và đất bị xáo trộn. Đất phù sa: có diện tích 93.494 ha chiếm 66,74 % diện tích tự nhiên, phân bố dọc ven sông Hậu, cách sông từ 8 đến 20 km với chiều dài khoảng 75 km. Đất phù sa tập trung nhiều nhất ở huyện Thốt Nốt (37. Đây là loại đất tốt, hàng năm được ngập nước, bồi đắp thêm hàm lượng phù sa, không có các loại độc tố gây hại cho cây trồng, cho phép đa dạng hoá cây trồng ở mức cao.
Nền đất này đã được khai thác trên 200 năm và trong bộ tính thuế đất nông nghiệp, được phân loại I. Đất phèn: có diện tích 19.625 chiếm 14,01 % diện tích tự nhiên, đứng thứ 2 sau đất phù sa. Đất phèn ở Cần Thơ do đã được khai thác lâu năm, được tưới tiêu khá tốt, được lũ bồi đắp phù sa hàng năm nên hầu hết đều ở dạng đất phèn nhẹ (đất phèn nặng 7 chỉ chiếm 2,26%), nồng độ độc tố thấp, tầng Jarosite nằm sâu trên 50cm, nên ít ảnh hưởng đến cây trồng. Đất xáo trộn (đất líp, thổ cư.768 ha chiếm 14,11 % diện tích tự nhiên, phân bố tại cả 4 huyện và 4 quận nội thành; đây là quỹ đất rất quý cho việc trồng cây lâu năm… 1.3 KHÍ TƯỢNG, THỦY VĂN 1.1 Đặc điểm khí tượng, khí hậu Nhiệt độ trung bình hàng năm cao, thay đổi từ 26,5-27,30C (trung bình là 27 0C).
Nhiệt độ bình quân tháng thay đổi từ 25,0-28,50C. Tháng IV nóng nhất, nhiệt độ bình quân từ 27,6 –28,40C. Tháng I lạnh nhất, nhiệt độ bình quân từ 24,9 –25,20C. Độ ẩm tương đối trung bình năm từ 82-85%.
Tháng IX, X độ ẩm tương đối trung bình cao nhất 85-90%, tháng I, II độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất 79-82%. Chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng lớn nhất và nhỏ nhất là 13%, độ ẩm tăng dần từ biển vào đất liền. Thành phố Cần Thơ chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa; trong năm có 2 mùa gió: Đông Bắc (từ tháng XI đến tháng IV) trùng với mùa khô và Tây Nam (từ tháng V đến tháng X), trùng với mùa mưa. Lượng bốc hơi trung bình năm trong tỉnh khá lớn, đạt khoảng 1.000 mm (Cần Thơ 917 mm, Rạch Giá 1.164 mm, Sóc Trăng 878 mm).
Mùa khô, bốc hơi lớn, đạt giá trị lớn nhất vào tháng III, khoảng 110-120 mm (Rạch Giá 123 mm, Cần Thơ 110 mm, Sóc Trăng 122 mm). Mùa mưa, lượng bốc hơi nhỏ, thấp nhất là tháng X, từ 50-70 mm. Lượng mưa năm trung bình tương đối lớn (1. Tại Tân Hiệp 1.875 mm, Rạch Giá 2.116 mm, Cần Thơ 1.566 mm, Đại Ngãi 1.826 mm, Phụng Hiệp 1.680 mm, Sóc Trăng 1.829 mm, Vị Thanh 1.
Lượng mưa năm gỉam dần từ phía biển Tây vào trong đất liền.2 Đặc điểm Thủy văn 1.1 Đặc điểm hệ thống sông ngòi, kênh rạch a. Hệ thống kênh trục/ kênh cấp I Hệ thống kênh trục phân bố khá đều ở Tp. Cần Thơ, trung bình khoảng 4-5km có một kênh. Theo thứ tự từ phía Bắc xuống có các kênh sau: Rạch Giá Long Xuyên, Kênh Tròn, Cái Sắn, KH1, KH3, Thốt Nốt, Thơm Rơm, KH5, Ô Môn, Thị Đội, KH7, KH8, KH9, Xà No.
Ngoài ra còn có một số kênh như kênh Đứng, kênh Ven Lộ. Các 8 kênh này có chiều dài khoảng từ 30 đến 60km, bề rộng từ 10 đến 30m, độ sâu đáy khoảng từ -2. Mỗi kênh trục có hàng chục kênh nhánh nối vào. Tổng chiều dài hệ thống kênh trục khoảng trên 300 km.
Hệ thống kênh cấp II Theo thống kê, Tp. Cần Thơ hiện có khoảng 800 km kênh cấp II, mật độ trung bình khoảng 11m/ha. Mặt kênh cấp II thường rộng từ 6 đến 8m, cao độ đáy từ 0. Chiều dài mỗi kênh chỉ từ 1.
Hệ thống kênh cấp III Là hệ thống kênh gắn liền với mặt ruộng, hàng năm được nhân dân tự duy tu, nạo vét. Toàn tỉnh có khoảng 750 kênh cấp II, với chiều dài khoảng 1000 km, mật độ trung bình khoảng 8m/ha. Mặt kênh rộng 2-3m, cao độ đáy từ 0.2 Đặc điểm thủy văn dòng chảy a. Thủy triều biển Đông Triều biển Đông thuộc loại bán nhật triều không đều, biên độ triều lớn (3,00-3,50 m); mực nuớc chân triều dao động lớn (1,60-3,00 m), mực nước đỉnh triều dao động nhỏ (0,80-1,00 m).
Thời gian duy trì mực nước cao dài hơn thời gian duy trì mực nước thấp, đường mực nước bình quân ngày nằm gần với đường mực nước đỉnh triều. Một chu kỳ triều trung bình 15 ngày, trong đó có 1 kỳ triều cường và 1 kỳ triều kém. Mực nước bình quân 15 ngày đạt giá trị cao nhất vào tháng XII, I, thấp nhất vào tháng VI, VII. Chế độ thủy văn sông Mê Công, sông Hậu Dòng chảy trên lưu vực sông Mê Công được phân thành hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng XII – V và mùa lũ từ tháng VI-XI.
Mùa khô lượng nước chỉ chiếm 10-15% tổng lượng nước trong năm, trong đó các tháng III-IV có lưu lượng kiệt nhất. Vào tháng VI, khi lũ sông Mê Công bắt đầu lên, nước từ sông chính theo sông Tonle Sap chảy ngược vào Biển Hồ. Thời gian chảy ngược duy trì đến cuối tháng IX, đầu tháng X, khi lũ trên sông chính vượt qua đỉnh cao nhất trong năm. Từ tháng X, XI, nước từ Biển Hồ bắt đầu chảy ra sông chính, bổ sung cho dòng chảy vào đồng bằng cuối mùa lũ và suốt cả mùa kiệt.
Trên sông Hậu (đoạn Long Xuyên - Đại Ngãi), chịu ảnh hưởng đồng thời của dòng chảy thượng nguồn và triều biển Đông mạnh, nên mực nước mùa kiệt tăng. Đường mực nước bình quân tăng dần từ Đại Ngãi lên thượng lưu và đạt đỉnh cao ở khu vực Ô Môn, sau đó giảm nhẹ lên phía Long Xuyên. Vì vậy, khoảng thời 9 gian tháng I, II mực nước bình quân đỉnh triều trên sông Hậu (từ cửa sông Ô Môn đến sông Cần Thơ) thường cao hơn mặt ruộng từ 20-30 cm. Một số nơi ven sông Hậu thuộc các huyện Ô Môn, Thốt Nốt, Phong Điền có khả năng tưới tự chảy vào lúc đỉnh triều.
Xu thế chung mực nước bình quân ở sông Tiền cao hơn ở sông Hậu. Kết quả lưu lượng thực đo cho thấy khoảng 33% lưu lượng sông Mê Công đựợc chuyển từ sông Tiền sang sông Hậu (mùa kiệt). Phía trên Vàm Nao, mực nước trung bình tại Tân Châu cao hơn Châu Đốc từ 0,20-0,30 m, phía dưới Vàm Nao mực nước bình quân tại Chợ Mới trên sông Tiền và Long Xuyên trên sông Hậu chênh nhau không nhiều (0,01-0,02 m). Do có nước ngọt từ thượng nguồn liên tục bổ sung về nên mực nước bình quân ở sông Hậu cao hơn mực nước bình quân ở phía biển Tây, đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển các kênh trục tạo nguồn dẫn nước từ sông chính vào sâu trong nội đồng.
Mùa lũ từ tháng VI-XI, chiếm 85÷90% tổng lượng nước hàng năm, lớn nhất là các tháng VIII-IX; Hàng năm thường từ tháng VII, tại Châu Đốc mực nước đã gia tăng mạnh, cùng với mưa nội đồng làm ngập lụt ở khu vực đầu nguồn. Như vậy, trung bình khoảng 2 năm có 1 năm lũ tháng VIII đạt mức trên 3m tại Châu Đốc; đoạn từ Long Xuyên đến Cần Thơ Lũ cao nhất trong năm thường xảy ra thời gian từ hạ tuần tháng IX đến trung tuần tháng X (20/IX-10/X), với tần suất lớn hơn vào thượng tuần tháng X. Mực nước lũ cao nhất tại Châu Đốc là 4,90 m (năm 2000), Long Xuyên 2,67 m (1961), Cần Thơ 1,92 m (năm 1961). Trung bình 2 năm có 1 năm lũ vượt quá báo động cấp III ở Châu Đốc.
Chênh lệch mực nước lũ nhiều năm tại Châu Đốc là 2,24 m. Thời gian duy trì mực nước trên 3,00 m tại Châu Đốc khoảng 3 tháng, đối với năm lũ lớn và 2 tháng đối với năm lũ trung bình. Thời kỳ lũ lớn, cường suất lũ lên từ 3-4 cm/ngày trên dòng chính và 2-3 cm/ngày trong nội đồng.