CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ĐTC có vai trò rất quan trọng không chỉ tác động đến sự tăng trưởng và phát triển KTXH của quốc gia nói chung, ĐP nói riêng mà có còn ảnh hưởng đến việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Chính vì vậy, có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình trong và ngoài nước như sau: 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến biến đổi khí hậu và gắn kết đầu tư công với biến đổi khí hậu Theo IPCC (2007), “Biến đổi khí hậu (climate change) là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đối về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn”. Nghiên cứu IPCC (2007) cũng chỉ ra rằng, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng là hai biểu hiện chính của BĐKH. Susmita Dasgupta và cộng sự (2007) với nghiên cứu “The Impact of Sea Level Rise on Developing Countries: A Comparative Analysis” đã đánh giá tác động của nước biển dâng (1m-5m) đến các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam trên các chỉ tiêu: đất đai, dân số, GDP, diện tích đô thị, diện tích nông nghiệp và diện tích đất ngập nước. Ở Khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nhất từ nước biển dâng.
Trong đó, vùng ĐBSH và vùng ĐBSCL của Việt Nam là hai vùng chịu ảnh hưởng phần lớn. Jeremy Carew-Reid (2008) trong nghiên cứu “Rapid Assessment of the Extent and Impact of Sea Level Rise in Viet Nam” đã phân tích và chỉ ra những tổn hại đối với kinh tế, xã hội và môi trường tại những nơi sẽ bị ngập ở Việt Nam trong kịch bản nước biển. Đến cuối năm 2100, mực nước biển dâng 1m thì sẽ có khoảng 4,4% diện tích đất, 7,3% dân số, 4,3% diện tích đường, 36 khu bảo tồn thiên nhiên của 39/63 tỉnh/thành phố chịu ảnh hưởng. Tại Vùng ĐBSCL, sẽ có khoảng 12 tỉnh chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất với 85% diện tích ngập lụt, 90% người nghèo bị ảnh hưởng và 90% diện tích đường bị ảnh hưởng.
Tô Văn Trường (2008), với nghiên cứu “Tác động của BĐKH đến an ninh lương thực quốc gia”, nghiên cứu làm rõ ảnh hưởng của BĐKH đến tài nguyên nước, sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực. Theo tác giả, các chính sách an ninh lương thực quốc gia và bài toán quy hoạch tam nông (nông nghiệp, nông thôn, nông dân) có vai trò rất quan trọng trong ứng phó BĐKH trong lĩnh vực nông nghiệp. Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2013) trong nghiên cứu “Tác động của BĐKH đến tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam và một số gợi ý chính sách” thông qua phân tích ảnh hưởng của BĐKH đến tăng trưởng và phát triển kinh tế, một số ngành/lĩnh vực chủ chốt ở Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra rằng, BĐKH sẽ hủy hoại các nỗ lực phát triển KTXH của tất cả các quốc gia.
Yếu tố BĐKH ngày càng được các quốc gia chú trọng đưa vào trong hoạch định chính sách, cũng như lòng ghép chúng vào các chiến lược tăng trưởng và phát triển KTXH, giảm nghèo. Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nhiều từ BĐKH, sự suy giảm về TTKT cũng như đời sống người dân, đe dọa đến an ninh lượng thực quốc gia,.Vì vậy, Việt Nam cần có những thay đổi mạnh mẽ trong chính sách công ở các cấp chính quyền ĐP, tăng cường gắn kết BĐKH vào các chính sách, chiến lược, DA trên các lĩnh vực then chốt như nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp, an sinh xã hội. Trong nghiên cứu của Phan Văn Tân và Ngô Đức Thành (2013) về “BĐKH ở Việt Nam: Một số kết quả nghiên cứu, thách thức và cơ hội trong hội nhập quốc tế”, với các tập số liệu quan trắc từ hệ thống mạng lưới trạm khí tượng thủy văn của Việt Nam trong quá khứ và các mô hình khí hậu khu vực, nhóm tác giả đánh giá xu thế biến đổi trong tương lai của BĐKH. Kết quả chỉ ra, sự BĐKH của Việt Nam không đứng ngoài xu thế chung của BĐKH toàn cầu.
Cụ thể, về nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng, lượng mưa ở miền Nam có xu hướng tăng, trong khi đó ở miền Bắc thì lại giảm. Bên cạnh đó, cần loại bỏ hoặc giảm bớt sự chênh lệch các kết quả dự tính giữa các mô hình BĐKH. Cần tiến hành đánh giá BĐKH cũng như mức độ tác động của BĐKH trước khi thực hiện xây dựng chiến lược, kế hoạch ứng phó. Cuối cùng, cần nâng cao vai trò của các nhà khoa học Việt Nam trong hợp tác quốc tế về nghiên cứu BĐKH.
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Trân (2010) về “Đồng bằng sông Cửu Long đối mặt với thách thức kép của BĐKH” cho rằng, ĐBSCL đối mặt với thách thức kép của BĐKH: (i) các ảnh hưởng từ phía các nguồn nước đến bị biến động; (ii) các ảnh hưởng của nước biển dâng. Đây là vùng tận cùng của lưu vực giáp Biển Đông, là phần lãnh thổ Việt Nam thuộc Châu thổ sông Mekong – một trong những Châu thổ của thế giới bị tác động nặng nề nhất bởi sự biến đổi của khí hậu toàn cầu. Nghiên cứu chỉ ra có hai nguyên nhân làm cho thách thức từ nguồn đối với hạ lưu được nhân lên: bởi chính các DA điều tiết nguồn nước, chuyển lưu vực; thứ hai là các công trình đập thủy điện được xây dựng trong lưu vực. Từ đó ảnh hưởng nhiều khó khăn đối với nhu cầu về nước của người dân cũng như nhu cầu phát triển kinh tế trong thời gian tới.
Cuối cùng, tác động từ nguồn và từ biển tương tác lẫn nhau cùng diễn ra giữa sông, sóng và triều ngay trên vùng ĐBSCL. Tương tự, Trần Hữu Hiệp (2015) về “Liên kết vùng trong ứng phó với BĐKH ở Việt Nam (Qua nghiên cứu trường hợp ĐBSCL)” cũng cho rằng, ĐBSCL đứng trước nhiều thách thức BĐKH, nước biển dâng và tác hại của việc xây dựng các đập thủy điện trên dòng chính của các quốc gia đầu nguồn sông Mekong làm thay đổi dòng chảy, lưu lượng và chất lượng nguồn nước của con sông. Ngoài ra, mùa lũ trong các năm gần đây cũng biến động không theo qui luật, ở các đô thị thường xuyên bị ngập lụt với phạm vi rộng và thời gian kéo dài lâu hơn, các hiện tượng sạc lở đất, lốc xoáy xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều…Lê Việt Phú (2016) với nghiên cứu “Môi trường Hạ vùng Mekong, phát triển bền vững và sinh kế bền vững tại Việt Nam” tổng quan cơ bản về BĐKH tại ĐBSCL bao gồm các biểu hiện như: nhiệt độ, lượng mưa, thời tiết; nước biển dâng; xâm ngập mặn; thay đổi dòng chảy và lũ; các hiện tượng thời tiết cực đoan; và các tác động cộng hưởng bên ngoài như xây dựng tại thượng nguồn, tác nhân con người (phát triển kinh tế xã hội), các giao động thời tiết ngẫu nhiên. Trong thời gian qua, có nhiều khung lý thuyết về hướng dẫn lòng ghép/tích hợp BĐKH vào kế hoạch phát triển KTXH như: “Tích hợp vấn đề BĐKH vào kế hoạch phát triển KTXH” của Trần Thục và Cộng sự (2012) – Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi Trường, cẩm nang “Phương pháp lòng ghép BĐKH vào kế hoạch phát triển KTXH của ĐP” của Lê Anh Tuấn (2011) – Trường Đại học Cần Thơ, “Ngân sách cho ứng phó với BĐKH ở Việt Nam: Đầu tư thông minh cho tương lai bèn vững” Bộ Kế hoạch và đầu tư và UNDP & World Bank Group (2015),….Việc tích hợp/lòng ghép BĐKH vào kế hoạch phát triển KTXH hướng tới kết hợp các biện pháp thích ứng BĐKH và giảm nhẹ rủi ro thảm họa sẽ giúp nâng cao sức chống chịu của cộng đồng, đảm bảo sinh kế bền vững và ổn định xã hội.
Từ đó, giúp năng cao năng lực quản lý và sự tham gia của người dân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các vấn đề trên là một vấn đề vẫn mới. Đối với Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của quá trình thực hiện nên trong quá trình triển khai các nhà hoạch định chính sách gặp nhiều khó khăn. Một số công trình nghiên cứu về đầu tư công và đầu tư công cấp tỉnh Benedict Clements và cộng sự (2003) với nghiên cứu “External Debt, Public Investment, and Growth in low - income counties”, nhóm tác giả đã nhận định tầm quan trọng ĐTC đối với phát triển kinh tế và mối quan hệ giữa ĐTC, nợ nước ngoài và TTKT.
Để đưa ra được các nhận định trên, nhóm nhiên cứu sử dụng các lý thuyết có liên quan, các mô hình tăng trưởng, mô hình ĐTC tiến hành định lượng và phân tích các tác động qua chứng minh thực tế ở các quốc gia có thu nhập thấp, trong đó có Việt Nam. Bên cạnh thể hiện vai trò kinh tế, ĐTC còn có vai trò xã hội. Một trong những vai trò xã hội của ĐTC là giảm nghèo. Edward Anderson và cộng sự (2006) với nghiên cứu “The Role of Public Investment in Poverty Reduction: Theories, Evidences and Methods”, Nghiên cứu chứng minh tác động giảm nghèo của ĐTC thông qua chứng minh HQĐT công trong tăng trưởng, sản xuất, trong các lĩnh vực như giao thông vận tải và truyền thông, thủy lợi, nghiên cứu và phát triển nông nghiệp… Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích vẫn là phương pháp lý tưởng để xác định những nhu cầu của hầu hết các loại ĐTC ở các quốc gia.
Tuy nhiên, phương pháp phân tích này có thể thực hiện không đầy đủ nếu bị hạn chế về tài nguyên và hạn chế về thông tin. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất hướng nghiên cứu tương lai trong lựa chọn chính sách xung quanh ĐTC giảm nghèo: (i) Cải thiện phương pháp đán giá ĐTC, (ii) Nâng cao hiểu biết về quá trình hoạch định chính sách. Nhiều nghiên cứu ở nhiều quốc gia với các phương pháp nghiên cứu khác nhau cho các kết luận nghiên cứu cũng khác nhau, một số nghiên cứu từ các quốc gia đã và đang phát triển cho kết quả là ĐTC thực sự lấn át đầu tư tư nhân như các nghiên cứu của H. Ngược lại kết quả nghiên cứu trên, ĐTC lại có tác động hỗ trợ cho đầu tư tư nhân như các nghiên cứu của D.
Trong khi nghiên cứu của M. Ramirez (1998) cho thấy ĐTC lấn át đầu tư tư nhân ở Ấn Độ và Mexico; thì kết luận ngược lại được tìm thấy ở V. Thakur (1980) cho Ấn Độ và Hàn Quốc.