CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI 1. Tính cấp thiết của đề tài Những năm gần đây, Chính Phủ nước ta đang ngày càng chú trọng tới công cuộc BVMT, xây dựng các chiến lược BVMT. Theo đó, các DN ngoài quá trình SX giấy còn phải đảm bảo quy trình xử lý các đầu ra khá đúng với quy định và coi đó là một trong những điều kiện tiên quyết trong công cuộc phấn đấu phát triển bền vững. Để thực hiện tốt các quá trình đó thì DN sẽ hình thành các CP về MT, giám sát và khắc phục các ảnh hưởng đối với MT.
Trong hoàn cảnh như vậy, sự phát triển của KTMT là rất cần thiết để thỏa mãn các yêu cầu về thông tin MT đối với hoạt động SXKD của DN cung cấp thông tin cho CBLQ như: Ngân hàng, Tổ chức TC, các cơ quan quản lý MT,… Tuy nhiên, việc CBTT trên các BCMT còn rất ít, chủ yếu là các thông tin mang tính mô tả. Trong khi đó, CBLQ lại rất chú trọng về các thông tin liên quan tới MT và KTMT trước khi đưa ra quyết định. Do đó, để đáp ứng yêu cầu thông tin của CBLQ, cần đẩy nhanh việc thực hiện KTMT trong các DNSX giấy Việt Nam. Theo IFAC (2005), các DN chưa nhận ra được lợi ích TC như tăng doanh thu, tiết kiệm CP, giảm tác động tiêu cực đến MT và đưa ra quyết định thông qua các thông tin về KTMT.
Không chỉ vậy, KTMT còn đem lại nhiều lợi thế cạnh tranh như tăng vị thế cạnh tranh, danh tiếng, tăng khả năng tiếp cận vốn, tạo dựng sự uy tín với khách hàng, nhà đầu tư,… Các NC về KTMT tại Việt Nam hiện nay vẫn còn khá ít và chưa thực sự đẩy nhanh được các DN Việt Nam đưa KTMT vào như là một bộ phận của KT trong DN. Chính vì vậy nhóm NC chọn đề tài NC “Các nhân tố ảnh hưởng tới KTMT trong các DN SX giấy Việt Nam” để làm rõ hơn về thực trạng, vai trò của KTMT và mức độ ảnh hưởng của các NTTĐ tới KTMT trong các DNSX giấy Việt Nam. Từ đó giúp DN hiểu được vai trò của KTMT và đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò và trách nhiệm của KTMT trong việc quản lý và BVMT tại các DNSX giấy nói riêng và các DNSX Việt Nam nói chung. Tổng quan các NC trước 1.
Các NC nước ngoài Các NC trên thế giới về KTMT tập trung vào KT tài chính MT và KT quản trị MT. Hầu hết các NC được thực hiện ở các nước phát triển chuyển sang công nghiệp mới hoặc các nước đang phát triển. Nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức KT chuyên nghiệp trên thế giới đã quan tâm đến KTMT, trong đó có thể kể tới hướng dẫn của Ủy ban Liên Hợp 2 Quốc về Phát triển bền vững - UNDSD (2001), Liên đoàn KT Quốc tế - IFAC (2005). Từ đó, việc thực hiện KTMT được nhiều các quốc gia thực hiện cho đến ngày hôm nay.
Các NC về KTMT Ở các nước phát triển, KTMT đang nhận được sự quan tâm của cả giới học thuật và các nhà QTDN. Wachira (2014) đã thực hiện NC về KTMT tại 30 DN ở các lĩnh vực khác nhau ở Nairobi, Kenya, trên cơ sở các lý thuyết về lập pháp, thể chế và quản lý, tác giả đã đưa ra các nhân tố ảnh hưởng bao gồm quy mô DN, CP tuân thủ, tuổi đời DN, chiến lược MT và hoạt động TC. Kết quả của NC đã chỉ ra rằng trình độ công nghệ ít ảnh hưởng, CP tuân thủ, chiến lược MT và hiệu quả TC ảnh hưởng mạnh. Quy mô DN và tuổi đời của DN không có tác động đến KTMT.
Zhang và cộng sự (2008) đã NC 384 báo cáo 128 DN hóa chất niêm yết ở Trung Quốc giai đoạn 2003 - 2005. Hơn một nửa DN đã thực hiện CBTT KTMT, số lượng DN thực hiện tăng từ 73 DN (2003) lên 95 DN (2005). Các thông tin MT được họ công bố hầu hết là các thông tin phi TC, được trình bày trong các mô hình khác nhau. Họ còn kết luận các nhà đầu tư yêu cầu cao trong việc đòi hỏi các DN đưa ra các chính sách CBTT về MT, trách nhiệm xã hội của DN.
Setthasakko (2010) trong NC khám phá về các công ty giấy và bột giấy ở Thái Lan về sự phát triển KTMT, NC được thực hiện bằng các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với những người cung cấp thông tin chính kèm theo quan sát thực tế. NC đã xác định được nguyên nhân của các rào cản là thiếu xây dựng TC học tập, chỉ tập trung vào hiệu quả kinh tế và thiếu các VBQĐ về KT QLMT. NC đã chỉ ra rằng phát triển kinh tế quản lý MT đòi hỏi phải nâng cao kiến thức “xanh” và tạo ra quan niệm rộng hơn về trách nhiệm của DN trong toàn bộ TC, kiến thức và kỹ năng MT thấp của kiểm toán viên đã hạn chế việc tích hợp các vấn đề MT vào hệ thống KT. Ngoài ra Chính Phủ có vai trò quan trọng trong việc thực hiện KT QLMT của các DN.
Michael (2019) trong NC về KT và báo cáo MT, cho rằng các doanh nghiệp nói riêng và ngành công nghiệp nói chung đang đã và đang đe dọa đến MT một cách tiêu cực. Do đó cần có một hệ thống KT có thể nắm bắt được sự ảnh hưởng của DN đến MT. Thứ nhất, do mức độ nghiêm trọng của các vấn đề MT mà chúng ta đang phải đối mặt, các nhà quản lý và KT viên cần phải thận trọng khi hành động ngay lập tức để giải quyết những mối nguy hiểm đang diễn ra này. Thứ hai, mô hình KT cũ chưa thể hiện được mức độ ảnh hưởng của doanh nghiệp gây ra cho MT.
Thứ ba, như một phần của sự đổi 3 mới và thử nghiệm, cần tiếp tục khám phá các hệ thống định giá tiền tệ và phi tiền tệ thay thế tiềm năng. Cuối cùng, bài NC muốn nói rằng cần phải thực hiện các chức năng quản lý, các DN, tổ chức phải công bố kết quả hoạt động MT của mình cho CBLQ. Một số các NC về việc xử lý, phân tích thông tin KTMT trên thế giới tiêu biểu khác như: Bartolomeo và cộng sự (2000), Lee và cộng sự (2006), Jamil và cộng sự (2015), Chang (2013),. Các NC về các NTTĐ đến KTMT Liu và Anbumozhi (2009) NC các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ CBTT MT các công ty niêm yết tại Trung Quốc.
Việc tăng trưởng nền kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc đã tạo ra những tác động xấu ảnh hưởng nghiêm trọng đến MT. Các biện pháp pháp lý đóng vai trò chủ đạo trong sự điều chỉnh hành vi thực hiện KTMT của các DN. Tuy nhiên do sự yếu kém của khuôn khổ pháp lý về MT hiện tại và năng lực thực thi khiến cho nhiều DN không quan tâm đến việc sản xuất thân thiện với MT. NC đã chỉ ra rằng áp lực từ Chính Phủ có ảnh hưởng đáng kể với độ nhạy cảm đến thực hiện KTMT, vai trò của CBLQ khác như cổ đông và chủ nợ trong tác động của NC này được cho là còn yếu.
Kết quả thực hiện còn chỉ ra rằng các DN ở vùng ven biển phía Đông, nơi nền kinh tế phát triển, có nhiều khả năng tiết lộ dữ liệu liên quan đến khí thải hơn. Hiệu quả công ty càng tốt thì thông tin về đầu tư MT và CP ngăn chặn ô nhiễm MT càng được công bố nhiều hơn. Jamil và cộng sự (2015) đã thực hiện NC các NTTĐ đến thực hành KTMT. NC áp dụng lý thuyết thể chế và dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi.
Việc tập trung vào các các DNSX vừa và nhỏ tại Malaysia cho kết quả hầu hết các DN đều phân bổ kinh phí cho các hoạt động MT và thực hành KTMT trong các lĩnh vực phi tiền tệ. NC cho rằng sự ép buộc là nhân tố chính tác động đến thực hành KTMT. Với áp lực cưỡng chế ngày càng tăng, các DNSX vừa và nhỏ sẵn sàng thực hành KTMT nhiều hơn. Nếu không các hướng dẫn ràng buộc các tổ chức với các thủ tục và các thông lệ KT liên quan từ chính phủ thì các DN sẽ ít thực hiện KTMT hơn.
Đồng thời, NC còn chỉ ra rằng, những hạn chế về TC là khó khăn chính đối với sự phát triển của việc thực hiện KTMT. Kiến thức và kĩ năng về MT chưa đầy đủ cũng hạn chế việc tích hợp các vấn đề MT và hệ thống thông lệ KT. Thiếu thông tin hướng dẫn là những cản trở lớn đối với khả năng đáp ứng thực hiện KTMT. 4 Majeed và cộng sự (2015) đã điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về trách nhiệm MT và XH của các công ty niêm yết ở Pakistan, NC 49 DN có báo cáo thường niên từ năm 2007 đến năm 2011.
NC các yếu tố: quy mô HĐQT, mức độ độc lập HĐQT, quốc tịch và giới tính của người đại diện HĐQT, mức độ phân cấp, quy mô và lợi nhuận của DN. Kết quả thấy rằng quy mô HĐQT có tác động đáng kể và tích cực. Mức độ độc lập của HĐQT, mức độ phân cấp và quy mô DN có tác động rõ rệt đến mức độ CBTT trách nhiệm XH và MT của DN. Barbu (2014) trong nghiên cứu về mức độ CBTT bắt buộc theo quy định các công ty tuân thủ IAS/ IFRS, việc áp dụng chuẩn mực KT cho rằng giữa các quốc gia có sự khác nhau trong thực hiện KTMT, NC đã điều tra mức độ CBTT về MT có sự tác động của quy mô DN và sự ràng buộc pháp lý và các quy định quốc gia ban hành.
Kết quả NC thấy rằng các quy định pháp lý có sự tác động mạnh mẽ đến mức độ CBTT. Tuy nhiên, kết quả lại không có sự nhất quán giữa các công ty, giữa các quốc gia do sự tồn tại lâu dài của các báo cáo truyền thống và sự khác biệt pháp lý giữa các quốc gia nghiên cứu. Các NC trong nước Ở Việt Nam, NC KTMT bắt đầu từ đầu thế kỷ 21 và được phát triển rộng rãi từ những năm 2010. NC ban đầu chủ yếu tập trung làm rõ khái niệm KTQTMT và việc thực hiện KTMT trong các DN.
Trong thời gian qua, đã có nhiều NC về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ áp dụng KTMT trong các DN sản xuất Việt Nam. Mặc dù các NC được tiến hành trong bối cảnh DN thuộc đa dạng các lĩnh vực nhưng hầu như các NC đều cho thấy DN Việt Nam áp dụng KTMT còn hạn chế và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố MT bên trong và bên ngoài của DN.