phần mở đầu nhé Commented [19]: Một số. Commented [NTM20]: BẢO VỆ 12 CHUONG I: CƠ SỞ LÝ THUYET VE NHAN THỨC VÀ MUC ĐỘ TUAN THU CAC QUY DINH VE BAO VE MOI TRUONG CUA DOANH NGHIEP 1. Khái niệm về môi trường va 6 nhiễm môi trường 1. Khái quát về Môi trường Môi trường là một khái niệm bao gồm rất nhiều định nghĩa khác nhau.
Một số Commented [21]: Nguyên tắc tiếng việt là em phải lùi vào đâu dòng trước môi một đoạn văn chứ khái niệm môi trường được công nhận rộng rãi có thể ké đến như: Môi trường bao gồm tất cả các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sự sống, sự phát triển và sinh tồn của một loài sinh vật bat ki. (Theo OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế năm 2015) Môi trường là tất cả những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến chủ thé con người. Có thé chia ra thành nhiều lại như môi trường vật lý, môi trường sinh học, xã hội, văn hóa,. hoặc bat kì yếu tố nào có thé ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của nhân loại.
Hay theo WHO, tổ chức ý tế thế giới, thì môi trường là tất các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học thiết yếu ảnh hưởng đến cá nhân con người. Môi trường sử dụng trong lĩnh vực pháp lý là một khái niệm được hiểu như là như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là những yếu tố, hoàn cảnh và tự nhiên bao quanh con người. Tại khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 “Môi trường bao gồm các yếu tô tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tổn tại, phát triển của con người và sinh vật”. Như vậy bất cứ một sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại trong một môi trường của nó.
Tuy nhiên môi trường, cái mà loài người hiện nay phải đối mặt và nghiên cứu bảo vệ nó là môi trường sống bao quanh con người. Ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa. Dưới góc độ kinh tế học, ô nhiễm môi trường là sự thay đôi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lí, hóa học, sinh học mà qua đó có thể gây tác { Commented [22]: Trích nguồn hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe của con người, các loài động thực vật và các điều kiện sống khác. Commented [23]: Trích luận BVMT mới nhất 13 Có thê thấy điểm chung nhất giữa các định nghĩa nêu trên về ô nhiễm môi trường là chúng đều dé cập đến sự biến đổi các thành phần môi trường theo hướng xâu, gây bat lợi cho con người và sinh vat.
Sự biến đổi các thành phần môi trường có thé bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chủ yếu là do các chất gây ô nhiễm. Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu. Điều này có nghĩa là những nguyên tố tự nhiên nào đó đo sự tác động của con người dẫn đến nó bị biến đổi theo chiều hướng xấu đi không còn phù hợp với những tiêu chuẩn môi trường. Một số loại ô nhiễm môi trường và tác động của nó đến sinh vật và con người: - _ Ô nhiễm môi trường không khí là sự có mặt của một hay một số chất lạ hay là sự biến đổi trong thành phần không khí là cho không khí không sạch, gây mùi khó chịu và giảm thị lực nhìn xa.
Ô nhiễm không khí làm ảnh hưởng đến tất cả sinh vật. Nito dioxit, ozon, chì,. gây hại trực tiếp cho thực vật khi vào khí không. ngăn cản sự quang hợp và tăng trưởng của thực vật và làm giảm sự hấp thu thức ăn, làm cho lá cây nhanh vàng và rụng sớm.
Làm cho trái đất nóng lên và gây ra hiệu ứng nhà kính. Gây ra mưa acid làm cây thiểu thức ăn và giết chết các sinh vật đất. Con người tiếp xúc với khói bụi trong thời gian dai sẽ có thé mắc các bệnh liên quan đến hô hấp và nội tạng. - O nhiễm đất là sự suy thoái của lớp đất bề mặt bởi việc sử dung quá mức tài nguyên và sự thải rác không hợp lý.
Các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân té sinh thái có trong dat làm môi trường đất bị ô nhiễm. Ô nhiễm đất còn ảnh hưởng đến sự phát triển hệ sinh thái. Chất gây ô nhiễm thường làm thay đổi quá trình chuyền hóa thực vật, gây giảm năng suất cây trồng. Dat bi ô nhiễm, cây cối kém phát triển nên việc bảo vệ đất tránh xói mòn bị hạn chế.
Dat bi ô nhiễm trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người thông qua tiếp xúc trực tiếp với đất hoặc qua đường hô hấp do sự bốc hơi của chất gây ô nhiễm đất, mối đe doa lớn hơn sự xâm nhập của 6 nhiễm đất vào tang nước ngầm được sử dụng cho con người. - _ Ô nhiễm nước là sự biến đổi tiêu cực của các tính chất vat lý — hoá học — sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng các sinh vật trong nước. Nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam về các van đề môi trường 1.
Khái niệm về nhận thức Nhận thức là quá trình học tập nghiên cứu. từ nhận thức để tạo ra tri thức. Tri thức là vốn hiểu biết khoa học của con người. Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thẻ.
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vảo trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn. Cách sử dụng khái niệm này khác nhau trong từng ngành học. Ví dụ như trong tâm lý học và khoa học nhận thức, "nhận thức" thường đề cập đến việc các chức năng tâm lý của một cá nhân xử lý thông tin. Nó còn được sử dụng trong một nhánh của tâm lý học xã hội - ý thức xã hội, để giải thích về những thái độ, sự phân loại và động lực nhóm.
Trong tâm lý học nhận thức và kỹ thuật nhận thức, "nhận thức" thông thường được coi là quá trình xử lý thông tin của tâm trí người tham gia hay người điều hành hoặc của bộ não. Nhận thức của con người về môi trường là quá trình con người học tập, nghiên cứu về môi trường. Đã nhận thức được tầm quan trọng của môi trường, hiểu được mối quan hệ giữa con người va môi trường. Và con người đã hiểu rõ về môi trường.
Con người đã hiểu được bảo vệ môi trường cũng chính là bảo vệ sự sống. Và họ sẽ hành động dé bảo vệ môi trường. Quy trình nhận thức Giai đoạn 1: Nhận thức cảm tính Nhận thức cảm tính hay còn được biết tới là trực quan sinh động (phản ánh thuộc tính bên ngoài thông qua cảm giác và tri giác) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Day là một trong các giai đoạn của quá trình nhận thức ma con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật, sự việc nhằm nắm bắt sự vật, Sự việc Ấy.
Nhận thức cảm tính gồm các hình thức sau: Cảm giác: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp Vào các giác quan của con người. Cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết qua của sự chuyển hoá những năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố ý thức. Tri giác: hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối toàn vẹn sự vật khi sự vật đó đang tác động trực tiếp vào các giác quan con người. Tri giác là sự tổng 15 hợp các cảm giác.
So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức đầy đủ hơn, phong phú hơn. Trong tri giác chứa đựng cả những thuộc tính đặc trưng và không đặc trưng có tính trực quan của sự vật. Trong khi đó, nhận thức đòi hỏi phải phân biệt được đâu là thuộc tính đặc trưng, đâu là thuộc tính không đặc trưng và phải nhận thức sự vật ngay cả khi nó không còn trực tiếp tác động lên cơ quan cảm giác con người. Do vậy nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao hơn.
Biểu tượng: là hình thức nhận thức cảm tinh phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự vật do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp vào các giác quan. Trong biểu tượng vừa chứa đựng yếu tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp. Bởi vì, nó được hình thành nhờ có sự phối hợp, bé sung lẫn nhau của các giác quan và đã có sự tham gia của yếu tố phân tích, tổng hợp. Cho nên biểu tượng phản anh được những thuộc tính đặc trưng nổi trội của các sự vật.
Đặc điểm của nhận thức cảm tính là phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thé nhận thức. Phản ánh bề ngoài, cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bản chất và không bản chất. Giai đoạn này có thé có trong tâm lý động vật. Hạn chế của nhận thức cảm tính là chưa khẳng định được những mặt, những mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong của sự vật.
Để khắc phục, nhận thức phải vươn lên giai đoạn cao hơn, giai đoạn lý tính. Giai đoạn 2: Nhận thức lý tính Commented [24]: Các điểm nhắn nin em format khác đi Nhận thức lý tính hay còn gọi là tư duy trừu tượng (phản ánh thực chất bên trong, bản chất của sự việc) là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận. Các hình thức của nhận thức lý tính bao gồm: Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay lớp sự vật.