CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN HUYỆN BÌNH ĐẠI 1. Khái niệm cơ bản Môi trường là khái niệm có nội hàm vô cùng rộng và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, môi trường được hiểu là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, tức là những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người. Khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 định nghĩa môi trường “là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.
Như vậy, theo cách định nghĩa của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì con người trở thành trung tâm trong mối quan hệ với tự nhiên. Điều này là phù hợp với nguyên tắc thứ nhất đã được đề cập trong Tuyên bố của Hội nghị Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển : “Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh hài hòa với thiên nhiên”. Môi trường được tạo thành bởi vô số các yếu tố vật chất.
Trong số đó những yếu tố vật chất tự nhiên như đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật có ý nghĩa đặc biệt và quan trọng. Những yếu tố này được coi là những thành phần cơ bản của môi trường. Chúng hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người. Con người chỉ có thể tác động tới chúng trong chừng mực nhất định.
Bên cạnh những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trường còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo. Những yếu tố này do con người tạo ra, nhằm tác động tới các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của bản thân mình: hệ thống đê điều, các công trình kiến trúc, nghệ thuật, các công trình văn hóa, mà con người từ thế hệ này sang thế hệ khác dựng nên. Các yếu tố tạo thành môi trường có thể tìm thấy tại khoản 2 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2014: “Thành phần môi trường là yếu tố vật 5 chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sang, sinh vật và các hình thái vật chất khác”. Dưới sự tác động của con người, môi trường hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những yếu tố mang tính tự nhiên như nước, đất, không khí, hệ thực vật, hệ động vật.
Tuyên bố của hội nghị Liên Hiệp Quốc tế về môi trường con người đã nhận định: “Con người luôn luôn tích lũy kinh nhiệm và thường xuyên tìm kiếm, phát minh, sáng tạo và tiến tới. Trong thời đại của chúng ta, năng lực biến đổi môi trường xung quanh của con người, nếu sử dụng một cách thông minh có thể mang lại cho mọi dân tộc những lợi ích phát triển và cơ hội làm cho chất lượng cuộc sống tốt đẹp hơn. Nếu sử dụng sai và vô ý, cùng sức mạnh đó có thể gây hại cho con người và môi trường con người không sao ước tính được. Xung quanh chúng ta, càng ngày càng có nhiều bằng chứng về những thiệt hại do con người gây ra ở nhiều khu vực của trái đất; các mức ô nhiễm nguy hiểm trong nước, không khí, đất và sinh vật sống; những xáo trộn lớn và không mong muốn đối với cân bằng sinh thái, sinh quyển; phá hủy và cạn kiệt các nguồn tài nguyên không thể thay thế…”.
Như vậy tác động của con người đến môi trường tự nhiên đã khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ngày một gia tăng không chỉ trong phạm vi một quốc gia, mà còn trong phạm vi toàn cầu. Ngược lại, khi môi trường thay đổi theo chiều hướng xấu sẽ có tác động bất lợi trở lại đối với con người. Ở Việt Nam, cụ thể hóa quy định của các công ước quốc tế vào pháp luật quốc gia, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã đưa ra một số định nghĩa cơ bản về ô nhiễm môi trường, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Theo đó: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014).
6 Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, các dạng ô nhiễm môi trường có thể kế đến là: Ô nhiễm không khí là việc xả khói, bụi và các chất hóa học vào bầu không khí, tiếng ồn cũng là một loại ô nhiễm trong không khí. Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm. Ô nhiêm đất xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc hại (hàm lượng vượt quá giới hạn thông thường) do các hoạt động chủ động của con người (như khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp; sử dụng phân bón hóa học hoặc thuốc trừ sâu quá liều lượng hoặc không bảo đảm chất lượng, hoặc do bị rò rì từ các thùng chứa ngầm). Phổ biến nhất trong các loại chất gây ô nhiễm đất là Hydrocacbon, kim loại nặng, thuốc diệt cỏ, chất thải phòng xạ,… Ô nhiễm đất và nước cùng có lý do nguồn gốc sinh vật như vi sinh… do hoạt động nông nghiệp và thủy sản.
Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Khoản 9, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014). Quá trình suy thoái môi trường có thể được gây ra bởi chính tác động của thiên nhiên hoặc do con người gây ra. Sự suy thoái môi trường có thể gây hủy diệt chính loài người. Trong những năm gần đây, con người luôn phải gánh chịu hậu quả của sự suy thoái môi trường như các hiện tượng nóng lên toàn cầu, tan chảy của sông băng, tăng mực nước biển… Tất cả đều có liên quan đến suy thoái môi trường.
Khi trạng thái tự nhiên của môi trường bị tổn thương, nó cũng sẽ dẫn đến sự suy giảm của đa dạng sinh học và gây hại đến sức khỏe con người. Sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng (Khoản 10 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014). Có nhiều nguyên nhân gây ra sự cố môi trường. Trong đó có thể kể đến: sóng thần, bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa a xit, mưa 7 đá, biến đổi khí hậu và thiên tai khác; hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng; sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển khoáng sản; sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử… các nguyên nhân trên tựu chung sẽ chia thành 3 dạng: sự cố môi trường do thiên nhiên gây ra, do con người gây ra và do cả thiên nhiên và con người gây ra.
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người, sinh vật và sự phát triển đất nước. Hoạt động bảo vệ môi trường nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành và góp phần phục vụ sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam. Hoạt động bảo vệ môi trường đã được định nghĩa tại Khoản 3, Điều 3, Luật bảo vệ môi trường năm 2014, theo đó: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành”. Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân.
Mọi tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường, thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường. Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định 12 hoạt động bảo vệ môi trường được khuyến khích và 16 hành vi bị nghiêm cấm. Luật Bảo vệ môi trường 1993 và 2005 Việc ban hành chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường và các luật khác có liên quan đến công tác bảo vệ môi trường là điều tất yếu khách quan, là một công cụ điều hành và quản lý chất thải nhằm phòng chống ô nhiễm môi trường, suy thoài môi trường hay sự cố môi trường. Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại Việt Nam bắt đầu được đề cập từ năm 1993 khi Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 27/12/1993 (Luật bảo vệ môi trường năm 1993), là văn bản quy phạm 8 pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam về vấn đề bảo vệ môi trường.
Luật này được thay thế bởi Luật Bảo vệ môi trường 2005 và hiện nay được thay thế bởi Luật bảo vệ môi trường năm 2014. Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của việc hoàn thiện phân cấp quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trải qua 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có quan điểm nhất quán, ban hành nhiều chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường, trong đó có cả việc hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường. Sau khi Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 có hiệu lực thi hành, hang loạt các văn bản dưới luật gồm: thông tư, pháp lệnh, chỉ thị, các chương trình quốc gia về bảo vệ môi trường đã được ban hành và triển khai, trong đó có nhiều văn bản nhấn mạnh vấn đề quản lý, giám sát chất thải bảo vệ môi trường như: Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994, Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004… và một loạt các Tiêu chuẩn Việt Nam được ra đời. Bên cạnh luật bảo vệ môi trường còn có các luật khác cũng đề cập đến việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên như: Luật Tài nguyên nước, Luật khoáng sản, Luật đất đai, luật Bảo vệ và phát triển rừng….