CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý xã hội về môi trường ở các địa phương cấp tỉnh 1. Khái niệm quản lý xã hội về môi trường ở các địa phương cấp tỉnh 1. Khái niệm về môi trường “Môi trường” là khái niệm có nội dung khá rộng và nhiều cách hiểu khác nhau.
Tại Hội nghị của Liên Hợp Quốc về môi trường con người năm 1972 tổ chức ở Stockholm, Thụy Điển đã đưa ra định nghĩa: “Môi trường là khung cảnh tự nhiên, là ngôi nhà chung của giới sinh vật, là nơi con người sinh sống, lao động, nghỉ ngơi và giải trí, là nơi hình thành và tích lũy tài nguyên thiên nhiên”.Kalesnik: “Môi trường chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người”. Trong Tuyên ngôn của Unesco năm 1981, môi trường được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người”. Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 được bổ sung, sửa đổi năm 2020 và có hiệu lực thi hành từ 1/1/2022 đã đưa ra khái niệm: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên.” Từ khái niệm đó có thể rút ra một số vấn đề sau đây: Thứ nhất, môi trường là một tổng thể gồm môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo: Môi trường tự nhiên là các yếu tố vật chất như đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, các hệ thực vật, động vật có ý nghĩa đặc biệt và quan trọng hơn cả. Những yếu tố này được coi là thành phần cơ bản của môi trường.
Chúng hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người. Con người chỉ có thể tác động tới chúng trong chừng mực nhất định. Môi trường nhân tạo là do con người tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu bản thân mình như: Hệ thống đê điều, các công trình nghệ thuật, các công trình kiến trúc, văn hóa,… Thứ hai, trong quá trình tồn tại và phát triển, con người cần có các nhu cầu tối thiểu về không khí, độ ẩm, nước, ánh sáng,… cũng như các hoạt động vui chơi giải trí khác. Tất cả các nhu cầu này đều do môi trường cung cấp.
Tuy nhiên, khả năng cung cấp nhu cầu đó của con người là có giới hạn và phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia và từng thời kì. Thứ ba, môi trường là nơi cung cấp các nhu cầu về tài nguyên cho con người như đất, đá, tre, nứa, tài nguyên sinh vật. Tất cả các tài nguyên này đều do môi trường cung cấp và giá trị của tài nguyên phụ thuộc vào mức độ khan hiếm của nó trong xã hội. Môi trường là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của con người trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường.
Các tài nguyên sau khi hết hạn sử dụng, chúng bị thải vào môi trường dưới dạng các chất thải. Các chất thải này bị các quá trình vật lý, hóa học, sinh học phân hủy thành các chất vô cơ, vi sinh quay trở lại phục vụ con người. Tuy nhiên chức năng là nơi chứa đựng chát thải của môi trường là có giới hạn. Nếu con người vượt quá giới hạn này thì sẽ gây ra mất cân bằng hệ sinh thái và ô nhiễm môi trường.
Việc sử dụng không gian sống và quan hệ với thế giới tự nhiên, có 2 tính chất mà con người cần chú ý là tính chất tự cân bằng và tính bền vững của hệ sinh thái. Khái niệm quản lý xã hội Quản lý xã hội (QLXH) là những tác động có ý thức của các chủ thể xã hội – có thể là cá nhân hoặc tổ chức vào xã hội nhằm sắp xếp và duy trì các phẩm chất đặc thù của xã hội, đáp ứng sự tồn tại và phát triển xã hội trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của nó như: Lao động và học tập, văn hóa, chính trị, tôn giáo và các công tác xã hội khác. QLXH là loại hình quản lý nói chung. Chức năng của QLXH là đảm bảo việc thực hiện các nhu cầu phát triển tiến bộ cho toàn bộ hệ thống xã hội cũng như các bộ phận của nó.TS Nguyễn Vũ Tiến, trang 13, cuốn Lý thuyết chung về quản lý xã hội, năm 2012, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, khái niệm QLXH được sử dụng theo hai cách tiếp cận khác nhau: Thứ nhất, QLXH là hoạt động quản lý của các tổ chức xã hội phi nhà nước, không chịu sự chi phối trực tiếp bởi quyền lực Nhà nước hay Chính phủ.
Thứ hai, QLXH là cách thức tổ chức đời sống xã hội vì mục tiêu chung, khi đó cả quốc gia cho tới nhóm xã hội đều bị chi phối bởi dạng quản lý nào đó. Cả hai cách tiếp cận này đều bắt nguồn từ nội dung quản lý đối với xã hội, những nội dung đó là: Quản lý một đơn vị dân số có tổ chức; quản lý lãnh thổ thuộc về xã hội mình; quản lý những nhóm xã hội với những chức năng nhiệm vụ riêng đã được xã hội phân công; quản lý một nền văn hóa chung với những giá trị và chuẩn mực nhất định; quản lý sự thống nhất trong hoạt động trên các cơ sở của các hoạt động đặc thù của từng bộ phận xã hội; quản lý từng đơn vị xã hội với những đặc thù riêng và tính độc lập tương đói của nó về mặt cấu trúc, chức năng; quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (kinh tế, văn hóa, khoa học…). Trên cơ sở những nội dung đó, về mặt phương pháp, nhiệm vụ của QLXH là: Thiết lập các tiêu chuẩn, các chỉ báo xã hội; phân loại các vấn đề xã hội; áp dụng các phương pháp quản lý một cách khoa học để giải quyết các vấn đề đó; lập kế hoạch về việc thực hiện các quan hệ xã hội và quá trình xã hội; dự báo xã hội; bố trí các chủ thể quản lý và giải quyết các mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Từ các yếu tố trên, có thể hiểu QLXH như sau: “Quản lý xã hội là quá trình hoạt động, hành động của chủ thể quản lý, thông qua các chính sách và các phương tiện, công cụ quản lý, để đạt được mục tiêu đặt ra, đó là một quá trình tương tác liên tục giữa chủ thể với khách thể và các nhân tố tác động.” QLXH như là tổng thể các cơ cấu tổ chức và các mối liên hệ quản lý giữa chúng và việc thực hiện cho phép thực hiện sự tương tác bằng quản lý giữa các cá nhân, các nhóm và các cộng đồng xã hội, các thiết chế, lĩnh vực… của xã hội.
Về bản chất, QLXH là sự điều chỉnh sự tác động qua lại một cách mâu thuẫn giữa lợi ích của các cá nhân, của nhóm, của chung để cùng thực hiện chúng. Đó là sự điều tiết mối quan hệ xã hội quy định địa vị và vai trò của con người trong xã hội, định hướng về lợi ích và hoạt động của họ, nội dung và cường độ hoạt động. Tác động đến quan hệ xã hội, trước hết là mối quan hệ hình thành về tư liệu sản xuất, bảo đảm thống nhất những lợi ích đa dạng, tổ chức các hoạt động xã hội, việc đạt các mục đích đặt ra, các kết quả chung. Để quản lý xã hội, nhà nước phải sử dụng sức mạnh quyền lực của mình và văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc để biến đường lối chủ trương chính sách thành hiện thực; làm cho dân tin và ủng hộ; ý định của chủ thể quản lý phải là mong muốn của đối tượng quản lý; thông qua việc cấu trúc xã hội một cách hợp lý; một cơ chế chế sử dụng nhân lực và tài nguyên, các mối quan hệ đối ngoại thuận lợi đặc biệt là cơ chế sử dụng nhân tài; với phương pháp, hình thức, nghệ thuật quản lý thích hợp nhất là việc sử dụng các công cụ, chính sách, giải pháp quản lý; cần tạo ra và tận dung thời cơ các nguồn lực bên trong và bên ngoài để phát triển xã hội.
Khái niệm quản lý xã hội về môi trường Đã có không ít khái niệm về quản lý môi trường được đưa ra. Ví dụ, tác giả Lưu Đức Hải cho rằng: “Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên.” Tác giả Trần Thanh Lâm cho rằng: “Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý xã hội hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và các khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ tiến hành.” Từ các khái niệm trên và bằng sự hiểu biết của mình, tác giả luận văn trình bày khái niệm QLXH về môi trường như sau: “Quản lý xã hội về môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý xã hội lên các cá nhân hoặc cộng đồng người nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động kinh tế - xã hội và bảo vệ sức khỏe của người dân. Đặc điểm quản lý xã hội về môi trường ở các địa phương cấp tỉnh 1. Quản lý xã hội về môi trương là quản lý một lĩnh vực có tính đặc thù cao Như đã đề cập, môi trường là một chỉnh thể gồm nhiều bộ phận: Đất, nước, không khí, sinh vật, âm thanh, ánh sáng và các hình thái vật chất khác.