CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây xanh 1. Khái niệm về cây xanh Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, đô thị dần dần được hình thành và không ngừng phát triển. Cùng với sự phát triển của đô thị là hệ thống cây xanh.
Vì cây xanh là một bộ phận quan trọng của các công trình kiến trúc, nhất là đối với các công trình kiến trúc đô thị. Trước đây việc trồng cây xanh chủ yếu là để trang trí, và kiến trúc cảnh quan. Vì vậy, trồng cây gì, ở đâu và trồng như thế nào thì hầu như phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của các nhà kiến trúc, sự yêu thích thiên nhiên của các nhà quý tộc, sự ham mê của những người làm vườn. Về phương diện bảo vệ môi trường có thể nói là chưa được chú ý, nếu có thì chỉ mang tính cục bộ đối với một ngôi nhà, một vùng hay một khu vực nào đó.
Đến giữa thế kỷ XX, do dân số tăng nhanh, sự phát triển của các ngành công nghiệp, sự gia tăng của các phương tiện giao thông… làm cho môi trường đô thị bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Cho nên, bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ hết sức cấp bách. Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc, có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề môi sinh. Cùng với việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì sử dụng cây xanh đang là giải pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi trường.
Vì vậy, cây xanh đô thị đã trở thành chủ đề thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm. Tuy nhiên, phải đến những năm đầu của thập kỷ 60 vấn đề này mới được nghiên cứu một cách hệ thống. Để nghiên cứu cây xanh đô thị, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều thuật ngữ để mô tả như: phức hợp rừng, lâm nghiệp vành đai xanh, kỹ nghệ xanh, lâm nghiệp tiện ích, lâm nghiệp đô thị. Cây xanh là một phần quan trọng của thiên nhiên, với sự phát triển công nghiệp hóa-hiện đại hoá đất nước, quá trình đô thị hoá cũng diễn ra nhanh chóng với nhiều dự án hạ tầng cơ sở cũng như nhà ở đang mọc lên.
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, không gian đô thị ngày càng chật chội thì nhu cầu tận hưởng những không gian xanh của cư dân đô thị đang ngày càng trở nên cấp thiết. phạm vi và chức năng hoạt động của lâm nghiệp đô thị khá rộng liên quan đến nhiều lĩnh vực: lâm nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trường, kiến trúc, dịch vụ và thương mại. 4 Như vậy, vai trò của cây xanh đã có sự thay đổi cơ bản về chức năng trong hệ sinh thái đô thị: trước đây chủ yếu là trang trí và kiến trúc cảnh quan thì nay là điều hoà khí hậu và bảo vệ môi trường. Cây xanh đô thị đã trở thành một chuyên ngành khoa học thực sự - chuyên ngành lâm nghiệp đô thị.
Với quan điểm này đòi hỏi phải xây dựng một loạt các giải pháp khoa học công nghệ từ việc qui hoạch đến việc chọn loài cây trồng, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cây trồng, các kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc và quản lý. Ở Việt Nam, việc trồng cây xanh đô thị đã được tiến hành từ hàng trăm năm. Nhưng việc nghiên cứu về vấn đề này thì mới được thực hiện khoảng vài chục năm gần đây. Điều đáng chú ý là các nghiên cứu mới chỉ tập trung ở hai Thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Quan điểm về vấn đề cây xanh đô thị, các nhà nghiên cứu trong nước đều khẳng định: hệ thống cây xanh đô thị có vai trò hết sức to lớn trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và kiến trúc cảnh quan. Hệ thống cây xanh đô thị của nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu về môi trường cảnh quan. Tỷ lệ diện tích cây xanh quá ít, cơ cấu cây trồng chưa hợp lý. Chúng ta vẫn còn thiếu một giải pháp đồng bộ cho việc phát triển hệ thống cây xanh đô thị (Nguyễn Văn Quyền, 2013).
Cây xanh đô thị có thể chia làm nhiều loại tùy theo tính chất sử dụng và vị trí của khu đất trong cơ câu quy hoạch. Các loại cây xanh đô thị bao gồm: - Cây xanh công viên. - Cây xanh vườn hoa. - Cây xanh đường phố.
Cây xanh đường phố Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc, có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề môi sinh. Cùng với việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì sử dụng cây xanh đang là giải pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi trường. Vì vậy, cây xanh đường phố đã trở thành chủ đề thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm. Vai trò của cây xanh đường phố Tỉ lệ cây xanh cũng như quy hoạch mảng xanh trong phát triển đô thị nói chung và các dự án nhà ở nói riêng vẫn còn yếu về chất lượng và thiếu về số lượng.
Việc trồng cây xanh ở những nơi công cộng vẫn caòn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch về lựa chọn, bố trí loại cây trồng phù hợp ở từng công trình, từng địa phương. Lợi ích mà hệ thống cây xanh công trình mang lại có tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống bao gồm cả lợi ích sinh thái, lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế, bao gồm: Có tác dụng giảm ô nhiễm không khí 5 Không khí chứa bụi khi thổi qua các hàng cây xanh thì các hạt bụi sẽ bám vào mặt lá cây do lực ma sát và trọng lượng của bản thân hạt bụi. Các luồng không khí thổi qua tán lá cây sẽ bị lực cản làm cho tốc độ của luồng không khí giảm và loãng đi. Do đó một phần hạt bụi sẽ ngưng đọng trên lá cây, vì vậy có thể nói cây xanh có tác dụng lọc sạch bụi trong không khí.
Cây xanh có khả năng điều hòa khí hậu hấp thu bức xạ, làm cho không khí nóng bức ngột ngạt ở thành phố trở nên dịu mát, dễ chịu. Ở những khu nhà san sát, nhà cao tầng nhất, không có cây xanh không khí thường nóng bức mà con người phải nhận lấy. Trái lại, ở những khu vực có cây xanh, cây đã “gánh” giùm phần lớn nhiệt lượng của mặt trời thải ra hơi nước, tỏa mát không gian. Bên cạnh đó, cây xanh che chở cho con người khỏi những tia nắng gay gắt giúp bảo vệ da và sức khỏe của con người.
Có tác dụng giảm tiếng ồn Các bộ phân của cây như vỏ cây, tán cây thân cây đều có tác dụng giảm tiếng ồn khoảng 30%. Đường phố có cây xanh sẽ giảm tiếng ồn xuống 5-6 lần. Về năng lượng Cây xanh giúp giảm tới 20-25% chi phí sử dụng năng lượng hàng năm cho một gia đình qua việc điều hòa không khí. Khả năng chắn gió, giảm tiếng ồn và tăng chất lượng không khí Theo ước tính, cây xanh có thể làm giảm lượng khói bụi đến 6% bằng cách hấp thu các tác nhân gây ô nhiễm không khí như: NO2, CO, SO2, O3, khói, bụi.
Giảm tải cho hệ thống thoát nước mưa đô thị Một cây xanh phổ biến có khả năng giữ lượng nước mưa trung bình 200-290 lít/năm. Bên cạnh đó, các thảm cây xanh làm tăng chất lượng nước các thủy vực do hấp thụ chất ô nhiễm từ nước chảy tràn bề mặt, làm giảm lượng nước tập trung vào nguồn nước mặt và tăng trữ lượng nước ngầm. Làm giảm xói lỡ thủy vực Cây trong khu vực ven thủy vực có vai trò làm giảm sự xói lở thủy vực nhờ sự ổn định đất đá bằng bộ rể của chúng. Về khía cạnh sinh học và thực phẩm Cây xanh đảm bảo nơi sống cho động vật trên cạn và các loài thủy sinh, cây xanh có thể cung cấp thực phẩm, nước, lớp phủ cho các loài chim, bó sát, động vật trên cạn.
Về phương diện tâm sinh lý 6 Cuộc sống của con người luôn gắn bó và không thể tách rời khỏi thiên nhiên. Vì vậy khi con người đứng trước các yếu tố tạo nên thiên nhiên (nước, cỏ cây hoa lá, núi non…) đều cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng và thư thái, như tìm được chốn yên bình sau khoảng thời gian ồn ào vội vã của cuộc sống. Tạo cảnh quan đô thị Như đã nói, cây xanh ảnh hưởng rất lớn đến cảnh quan của thành phố. Những đặc điểm của cây như hình dáng, màu sắc, hương thơm,.
góp phần làm đẹp mỹ quan của thành phố. Kiểm soát giao thông Cây xanh đô thị còn có tác dụng kiểm soát giao thông. Các bụi thấp, bờ dậu, đường viền cây xanh trong vườn hoa vừa có tác dụng trang trí vừa có tác dụng định hướng cho người đi bộ. Hàng cây bên đường có tác dụng định hướng.
Đặc biệt vào ban đêm, sự phản chiếu của các gốc cây được sơn vôi trắng là những tín hiệu chỉ dẫn cho người đi đường. Giá trị kinh tế Cây xanh có những cành già cỗi là nguồn cung cấp gỗ, củi. Một số cây còn có thể ra quả mang đến giá trị kinh tế cho con người. Các loại cây bóng mát trong đô thị Theo quy định mức dự toán duy trì cây xanh đô thị do Bộ xây dựng ban hành năm 2009, cây xanh bóng mát được phân loại như sau: Cây bóng mát mới trồng là cây từ sau khi trồng 90 ngày đến 2 năm.
Cây xanh bóng mát từ sau khi trồng 2 năm trở đi, bao gồm: Cây loại 1 (cây tiểu mộc): có chiều cao trưởng thành ≤ 6m; đường kính gốc ≤ 20cm. Cây loại 2 (cây trung mộc): có chiều cao trưởng thành ≤ 12m; đường kính gốc ≤ 50cm. Cây loại 3 (cây đại mộc): có chiều cao trưởng thành >12m; đường kính gốc >50cm. Giới thiệu về mô hình I-tree Eco Mô hình hệ sinh thái có thể giúp đưa ra quyết định liên quan đến việc trồng cây đô thị để giảm thiểu biến đổi khí hậu và giảm ô nhiễm không khí.
Các thuật toán và mô hình liên kết các đặc tính của các loại chức năng thực vật, nhóm loài hoặc loài đơn lẻ với tác động của chúng đối với các dịch vụ hệ sinh thái cụ thể đã được phát triển. Tuy nhiên, các mô hình này đòi hỏi một nỗ lực đáng kể để khởi tạo vốn dĩ có liên quan đến những yếu tố 7 không chắc chắn bắt nguồn từ sự đa dạng cao của các loài thực vật ở các khu vực đô thị.