ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những thập niên vừa qua, sự phát triển về khoa học kĩ thuật đã dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ngày càng đƣợc đẩy mạnh. Chính sự phát triển này mà môi trƣờng sống của chúng ta đang bị đe doạ nghiêm trọng.
Trong rất nhiều những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trƣờng thì rác thải sinh hoạt là một trong những nguyên nhân chính. Thực tế cho thấy lƣợng rác thải tạo ra hàng ngày trong quá trình sống của con ngƣời gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế, tăng dân số, tăng mức sống của ngƣời dân. Tuy nhiên việc bảo vệ môi trƣờng chƣa trở thành thói quen, nếp sống của nhiều ngƣời. Việc quản lý chất thải rắn là một trong những vấn đề cấp thiết và cần đƣợc giải quyết kịp thời để đảm bảo cho việc vệ sinh chung, cho cảnh quan đô thị, cho sức khỏe cộng đồng và đảm bảo cho việc giảm thiểu những tác động xấu tới môi trƣờng.
Tại thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt bƣớc đầu đã đƣợc quan tâm. Tuy nhiên, do chƣa có biện pháp xử lý hữu hiệu, chƣa có đầy đủ cơ sở khoa học nên công tác quản lý chất thải rắn còn gặp nhiều khó khăn. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của quản lý chất thải rắn, trƣớc thực tế khó khăn của công tác quản lý này, cùng với sự phân công của Khoa Môi trƣờng dƣới sự hƣớng dẫn của giảng viên ThS Nguyễn Minh Cảnh, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt thị trấn Đồng Mỏ - huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn”. Mục đích của đề tài - Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng.
- Đề xuất những phƣơng án quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá về khối lƣợng, thành phần và mức độ ảnh hƣởng của CTSHR trên địa bàn thị trấn. - Đề ra những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTSHR của thị trấn. Yêu cầu của đề tài.
- Số liệu thu đƣợc phải chính xác, trung thực, khách quan. - Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế của thị trấn. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Đây là điều kiện giúp sinh viên tập duyệt, vận dụng những kiến thức đã học làm quen với thực tế. - Ý nghĩa trong thực tiễn: Đánh giá những mặt còn hạn chế trong công tác quản lý CTSHR.
Từ đó giúp cho địa phƣơng định hƣớng phƣơng pháp quản lý CTSHR trong thời gian tới. n 3 Phần 2 TỒNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Quản lý môi trƣờng là tập hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lƣợng môi trƣờng sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. Các nguyên tắc quản lý môi trƣờng, các công cụ thực hiện giám sát chất lƣợng môi trƣờng, các phƣơng pháp xử lý môi trƣờng bị ô nhiễm đƣợc xây dƣng trên cơ sở sự hình thành và phát triển ngành khoa học môi trƣờng.
Nhờ sự tập trung cao độ của các nhà khoa học trên thế giới, trong thời gian từ 1960 tới nay nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trƣờng đã đƣợc tổng kết và biên soạn thành các giáo trình chuyên khoa. Trong đó có nhiều tài liệu cơ sở, phƣơng pháp luận nghiên cứu môi trƣờng, các nguyên lý và quy luật môi trƣờng. Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trƣờng, các vấn đề ô nhiễm do hoạt động sản xuất của con ngƣời đang đƣợc nhiên cứu xử lý hoặc phòn tránh, ngăn ngừa. Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lƣợng môi trƣờng nhƣ kỹ thuật viễn thám, tin học đƣợc phát triển ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Tóm lại, quản lý môi trƣờng là cầu nối giữa khoa học môi trƣờng với hệ thống tự nhiên, con ngƣời, xã hội đã đƣợc phát triển trên nền phát triển của các bộ môn chuyên ngành.Khái niệm về chất thải “Chất thải là mọi thứ mà con ngƣời, thiên nhiên và quá trình con ngƣời tác động vào thiên nhiên thải ra” (Nguyễn Đình Hƣơng, 2003) [6]. Chất thải là các chất hoặc vật liệu mà ngƣời chủ hoặc ngƣời tạo ra chúng hiện tại không sử dụng và chúng bị thải bỏ. n 4 Chất thải thƣờng đƣợc phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con ngƣời, trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thƣơng mại, giao thong vận tải, tại hộ gia đình, các cơ quan, trƣờng học, nhà hàng, khách sạn.2 Khái niệm về chất thải rắn Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất đƣợc con ngƣời loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng,. Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và các hoạt động sống (Nguyễn Đình Hƣơng, 2003) [6].
Phần lớn chất thải là ở thể rắn và có ở khắp mọi nơi xung quanh ta nhƣ: Gạch, đá, xi măng, vôi, vữa, mảnh sành, mảnh chai, sắt vụn…. Chất thải rắn gồm những chất thải hữu cơ nhƣ: Thức ăn thừa, giấy, bìa cactong, nhựa, vải, cao su, da, lá rụng sân vƣờn, gỗ….và còn có chất thải vô cơ nhƣ: thủy tinh, lon thiếc, nhôm, kim loại khác, đất cát….3 Khái niệm về xử lý chất thải Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý chất thải mà không làm ảnh hƣởng đến môi trƣờng; tái tạo lại các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế. Xử lý chất thải là một công tác quyết định đến chất lƣợng bảo vệ môi trƣờng. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn Chất thải rắn phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau: - Từ khu dân cư: Bao gồm các khu dân cƣ tập trung, những hộ dân cƣ tách rời.
Nguồn rác thải chủ yếu là: thực phẩm dƣ thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, cao su,. còn có một số chất thải nguy hại n 5 - Từ các động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan, khách sạn,.Các nguồn thải có thành phần tƣơng tự nhƣ đối với các khu dân cƣ (thực phẩm, giấy, catton,.) - Các cơ quan, công sở: Trƣờng học, bệnh viện, các cơ quan hành chính: lƣợng rác thải tƣơng tự nhƣ đối với rác thải dân cƣ và các hoạt động thƣơng mại nhƣng khối lƣợng ít hơn. - Từ xây dựng: Xây dựng mới nhà cửa, cầu cống, sửa chữa đƣờng xá, dỡ bỏ các công trình cũ. Chất thải mang đặc trƣng riêng trong xây dựng: sắt thép vụn, gạch vỡ, các sỏi, bê tông, các vôi vữa, xi măng, các đồ dùng cũ không dùng nữa - Dịch vụ công cộng của các đô thị: Vệ sinh đƣờng xá, phát quan, chỉnh tu các công viên, bãi biển và các hoạt động khác,.
Rác thải bao gồm cỏ rác, rác thải từ việc trang trí đƣờng phố. - Các quá trình xử lý nước thải: Từ quá trình xử lý nƣớc thải, nƣớc rác, các quá trình xử lý trong công nghiệp. Nguồn thải là bùn, làm phân compost,. - Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Bao gồm chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công, quá trình đốt nhiên liệu, bao bì đóng gói sản phẩm,.
Nguồn chất thải bao gồm một phần từ sinh hoạt của nhân viên làm việc. - Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải chủ yếu từ các cánh đồng sau mùa vụ, các trang trại, các vƣờn cây,. Rác thải chủ yếu thực phẩm dƣ thừa, phân gia súc, rác nông nghiệp, các chất thải ra từ trồng trọt, từ quá trình thu hoạch sản phẩm, chế biến các sản phẩm nông nghiệp. * Ngoài ra, chất thải rắn được phát sinh từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo nhiều cách.
n 6 - Theo vị trí hình thành: Tùy theo vị trí hình thành mà ngƣời ta phân ra rác thải đƣờng phố, rác thải vƣờn, rác thải các khu công nghiệp tập trung, rác thải hộ gia đình. - Theo thành phần hóa học và vật lý: Theo tính chất hóa học có thể phân ra chất thải hữu cơ, chất thải vô cơ, kim loại, phi kim, - Theo mức độ nguy hại, chất thải được phân thành các loại sau: + Chất thải nguy hại: bao gồm các hoá chất dễ phản ứng, các chất độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, dễ gây nổ, chất thải phóng xạ,. + Chất thải không nguy hại: Là những chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp. + Chất thải y tế nguy hại: Là những chất thải có nguồn gốc từ các hoạt động y tế, mà nó có đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trƣờng và sức khỏe của cộng đồng bao gồm bông băng, gạt, kim tiêm, các bệnh phẩm và các mô bị cắt bỏ,.