Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt thị trấn Đồng Mỏ - huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn" được sinh viên Hoàng Tiến Mạnh thực hiện năm 2017 dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Minh Cảnh tại Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên. Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Khoa học môi trường, theo định hướng điều tra thực địa và đánh giá hiện trạng quản lý môi trường cơ sở.
Theo trình bày của tác giả, sự phát triển kinh tế - xã hội cùng tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã làm gia tăng nhanh chóng lượng chất thải phát sinh hàng ngày. Tại thị trấn Đồng Mỏ (huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn), rác thải sinh hoạt phát sinh với khối lượng lớn, trong khi ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa thành nền nếp, công tác quản lý chất thải rắn bước đầu được quan tâm nhưng còn gặp nhiều khó khăn do thiếu các giải pháp kỹ thuật hữu hiệu và cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy.
Văn bản xác định mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục đích của đề tài:
- Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng.
- Đề xuất những phương án quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn.
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá về khối lượng, thành phần và mức độ ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn.
- Đề ra những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt của thị trấn.
- Yêu cầu của đề tài:
- Số liệu thu thập phải đảm bảo tính chính xác, trung thực, khách quan.
- Các giải pháp, kiến nghị đề xuất phải có tính khả thi, gắn liền với điều kiện thực tế của địa phương.
Đối tượng nghiên cứu là nguồn rác thải sinh hoạt, rác thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, trường học và bệnh viện trên địa bàn thị trấn Đồng Mỏ. Phạm vi không gian được giới hạn trong địa giới hành chính thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; địa điểm phối hợp công tác là Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chi Lăng cùng UBND thị trấn Đồng Mỏ. Thời gian thực hiện nghiên cứu diễn ra từ ngày 26/11/2016 đến ngày 31/03/2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý luận, tác giả sử dụng các khái niệm về quản lý môi trường, khái niệm chất thải và chất thải rắn theo giáo trình của Nguyễn Đình Hương (2003), cùng khái niệm xử lý chất thải. Chất thải rắn được phân loại dựa trên các tiêu chí: vị trí hình thành (rác đường phố, rác vườn, rác khu công nghiệp, rác hộ gia đình); thành phần hóa học và vật lý (hữu cơ, vô cơ, kim loại, phi kim); mức độ nguy hại (chất thải nguy hại, chất thải không nguy hại, chất thải y tế nguy hại). Đồng thời, tác giả tổng hợp hệ thống nguồn phát sinh từ khu dân cư, thương mại, công sở, xây dựng, dịch vụ công cộng, quá trình xử lý nước thải, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp.
Cơ sở pháp lý của đề tài dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu:
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
- Các Nghị định của Chính phủ: Nghị định 19/2015/NĐ-CP, Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu, Nghị định 18/2015/NĐ-CP, Nghị định 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn, Nghị định 179/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Nghị định 69/2008/NĐ-CP.
- Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định 1216/QĐ-TTg, Quyết định 2149/2009/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2015, tầm nhìn 2050, Quyết định 1440/2008/QĐ-TTg.
- Các Thông tư và quy chuẩn kỹ thuật: Thông tư 36/2015/TT-BTNMT, Thông tư 13/2007/TT-BXD, Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD, Thông tư 121/2008/TT-BTC; QCVN 07:2009/BTNMT, QCVN 02:2013/BTNMT, QCVN 30:2012/BTNMT, QCVN 41:2011/BTNMT, QCVN 56:2013/BTNMT; TCXDVN 261-2001, TCVN 6696-2000, TCVN 6706-2009, TCXDVN 320:2004.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, tác giả áp dụng bốn phương pháp chính:
- Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu: Thu thập tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chi Lăng, UBND thị trấn Đồng Mỏ và báo cáo của Công ty Đô thị và Dịch vụ Thành Linh.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp các tuyến đường, điểm hẹn rác, quy trình vận hành bãi đổ thải nhằm xác định nguồn thải và hiện trạng thu gom.
- Phương pháp đặt điểm theo dõi và phân loại rác thực tế:
- Hộ gia đình: Chọn ngẫu nhiên 20 hộ dân tại khu Hòa Bình II, phát 3 túi có màu sắc riêng biệt (túi xanh chứa rác hữu cơ, túi trắng chứa rác tái chế, túi đen chứa rác khác). Hướng dẫn phân loại trong ngày, tiến hành cân đo khối lượng từng loại vào giờ cố định mỗi ngày (1 lần/ngày), lặp lại từ 3 đến 6 ngày.
- Chợ trung tâm huyện: Sau mỗi phiên chợ, tập kết rác thành đống, tiến hành phân chia thành 3 nhóm (hữu cơ, tái chế, rác khác) và cân đo khối lượng, thực hiện theo dõi trong 5 ngày liên tục (gồm cả ngày thường, ngày giáp phiên và ngày chính phiên).
- Cơ quan, trường học: Phỏng vấn thông tin nhân khẩu, khách giao dịch tại 1 trường THPT và 4 cơ quan công sở lân cận; đặt túi phân loại và cân đo khối lượng hàng ngày trong 5 ngày.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp xử lý số liệu: Nhập dữ liệu và xử lý thống kê mô tả (tính tổng, giá trị trung bình, tỷ lệ phần trăm) bằng phần mềm Microsoft Word, Excel; đối chiếu kết quả với các quy định pháp luật hiện hành.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Đặt vấn đề
Phần này làm rõ tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ xung đột giữa phát triển kinh tế - xã hội với sức ép ô nhiễm rác thải sinh hoạt đô thị. Tác giả xác lập rõ ràng mục đích, mục tiêu (định lượng khối lượng, xác định thành phần, đề xuất giải pháp), yêu cầu kỹ thuật và ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp đối với công tác bảo vệ môi trường tại thị trấn Đồng Mỏ.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa cơ sở khoa học về chất thải rắn, nguồn gốc phát sinh và phân loại rác. Đồng thời, văn bản điểm lại kinh nghiệm quản lý chất thải rắn trên thế giới: mô hình phân loại rác tại nguồn bằng thùng đa màu sắc tại Hà Lan, Đức; mô hình phân loại rác 3 túi tại Nhật Bản; thống kê định mức rác thải theo đầu người (Canada: 1,7 kg/người/ngày; Australia: 1,6 kg; Thụy Sỹ, Thụy Điển, Trung Quốc: 1,3 kg); công nghệ nhiệt phân chất thải rắn thành than sạch của Công ty Entropic (Mỹ).
Đối với Việt Nam, tác giả trích dẫn Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2011 và số liệu phát sinh năm 2014 (toàn quốc phát sinh khoảng 23 triệu tấn/năm, tương đương 63.000 tấn/ngày; chỉ số phát sinh đô thị lớn từ 0,9-1,38 kg/người/ngày, đô thị nhỏ từ 0,31-0,38 kg/người/ngày). Về xử lý, tính đến năm 2013 cả nước có 458 bãi chôn lấp quy mô trên 1 ha (chỉ 121 bãi hợp vệ sinh, 337 bãi không hợp vệ sinh) và 26 cơ sở xử lý tập trung (3 cơ sở đốt, 11 cơ sở làm phân hữu cơ, 11 cơ sở kết hợp, 1 cơ sở sản xuất viên nhiên liệu), cùng xu hướng đầu tư khoảng 50 lò đốt quy mô nhỏ cấp xã, huyện tiềm ẩn nguy cơ phát sinh khí Dioxin/Furan.
Phần 3: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết khung thiết kế nghiên cứu: đối tượng khảo sát là rác thải sinh hoạt từ dân cư, cơ sở dịch vụ, trường học, bệnh viện; phạm vi địa bàn thị trấn Đồng Mỏ; thời gian thực hiện từ 26/11/2016 đến 31/03/2017. Nội dung tập trung vào: điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội; thực trạng công tác vệ sinh môi trường, nguồn thải, thu gom; phân loại và cân đo thực nghiệm khối lượng, thành phần rác thải; đề xuất giải pháp. Quy trình thực nghiệm 3 điểm (khu dân cư, chợ huyện, khối cơ quan/trường học) được mô tả cụ thể về số lượng mẫu, mã màu túi chứa, chu kỳ lặp lại và công cụ tính toán.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này công bố toàn bộ dữ liệu khảo sát và thảo luận của tác giả:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội: Thị trấn Đồng Mỏ có diện tích 475,57 ha; dân số năm 2016 là 8.511 người với 2.120 hộ gia đình, phân bố tại 7 khu phố và 1 thôn (Lũng Cút). Cơ cấu đất đai năm 2016 gồm: đất nông nghiệp 144,63 ha (30,41%), đất phi nông nghiệp 88,90 ha (18,69%), đất chưa sử dụng 242,04 ha (50,90% - chủ yếu là núi đá, trong đó có khoảng 50 ha trồng cây Na). Cơ cấu kinh tế năm 2015: dịch vụ chiếm 36,87%, công nghiệp - xây dựng chiếm 32,33%, nông lâm nghiệp chiếm 31,07%; thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 5,25 triệu đồng, năm 2016 ước đạt 5,80 triệu đồng.
- Thực trạng thu gom, vận chuyển và xử lý: Công ty Môi trường và Dịch vụ đô thị Thành Linh đảm nhận việc thu gom rác trên địa bàn với 22 công nhân (riêng Đồng Mỏ có 10 công nhân, thu nhập bình quân 3,0 triệu đồng/người/tháng). Phương tiện gồm: 04 xe ép rác (hai xe 5 m³, hai xe 2 m³), 04 xe tải (10–14 m³), 02 máy xúc (0,65 m³), 01 máy ủi và 20 xe đẩy tay (0,3 m³). Rác từ hộ gia đình được thu gom bằng xe đẩy tay đưa về điểm hẹn, sau đó vận chuyển đến bãi rác Đèo Quao. Tại cầu tập kết rác Đồng Mỏ, rác được cào đều thành từng lớp dày 30–40 cm và tưới chế phẩm vi sinh EM (20 lít/lượt) để khử mùi và côn trùng trước khi đưa lên bãi Đèo Quao.
- Hiện trạng xử lý và phân loại: Thị trấn chưa có nhà máy chế biến rác; tỷ lệ rác được phân loại tái chế tại nguồn rất thấp (chỉ khoảng 1–3%). Về biện pháp xử lý cuối cùng của hộ gia đình/công ty: 70% đốt thủ công qua lò đốt không khí tự nhiên và 30% chôn lấp tại bãi rác Đèo Quao. Bãi Đèo Quao chưa vận hành đúng quy chuẩn, gây ô nhiễm thứ cấp.
- Khối lượng và thành phần rác thải qua điều tra thực địa: Tổng lượng rác thu gom toàn thị trấn ước tính đạt 74 tạ/ngày (tương đương 7,4 tấn/ngày), bình quân đạt gần 0,9 kg/người/ngày. Mức phí thu gom áp dụng là 12.000 đồng/hộ/tháng.
| Nguồn phát sinh |
Tổng lượng rác (kg/ngày) |
Rác hữu cơ (kg/ngày) |
Tỷ lệ hữu cơ (%) |
Rác tái chế (kg/ngày) |
Tỷ lệ tái chế (%) |
Rác khác (kg/ngày) |
Tỷ lệ rác khác (%) |
| Khu dân cư (20 hộ thí điểm) |
34,33 |
19,33 |
56,14 |
7,83 |
23,07 |
7,17 |
20,79 |
| Chợ trung tâm huyện |
1.020,00 |
680,00 |
67,32 |
210,00 |
20,58 |
130,00 |
12,10 |
| Khối cơ quan, trường học |
200,00 |
120,00 |
59,58 |
57,50 |
29,08 |
22,50 |
11,33 |
| Tổng cộng 3 điểm điều tra/ngày |
1.254,33 |
819,33 |
65,32 |
275,33 |
21,95 |
159,67 |
12,73 |
| Quy đổi cả năm (tấn/năm) |
457,83 |
299,06 |
- |
100,49 |
- |
58,28 |
- |
- Đề xuất giải pháp: Tác giả xây dựng hệ thống giải pháp quản lý (tuyên truyền Luật BVMT 2014, phổ biến Nghị định 38/2015/NĐ-CP, đưa giáo dục môi trường vào trường học, đào tạo cán bộ, tăng phí vệ sinh, xã hội hóa, tăng cường thanh tra) và giải pháp kỹ thuật (vận động phân loại rác tại nguồn, quy hoạch bãi đổ thải hợp vệ sinh tập trung, thu gom phế liệu tái chế kim loại, giấy, nhựa, tận dụng phế thải xây dựng san nền, thu gom riêng rác nguy hại, sơ đồ nguyên tắc xử lý rác thải kết hợp ủ sinh học - chôn lấp - đốt).
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng kết: điều kiện kinh tế phát triển làm tăng áp lực rác thải; khối lượng rác sinh hoạt phát sinh trung bình 0,9 kg/người/ngày; tổng khối lượng rác toàn thị trấn đạt khoảng 7,4 tấn/ngày; chợ huyện là nguồn tập trung lớn nhất (1.020 kg/ngày); phương tiện thu gom của Công ty Thành Linh còn thiếu, công tác quản lý chưa cao. Đề nghị UBND thị trấn phối hợp tuyên truyền các phong trào môi trường, xử lý nghiêm vi phạm và tìm kiếm nguồn vốn đầu tư trang thiết bị, công nghệ xử lý tiên tiến.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã ghi nhận và tổng hợp được các dữ liệu định lượng cụ thể về công tác quản lý chất thải rắn tại một thị trấn miền núi:
-
Dữ liệu thực trạng hệ thống thu gom và xử lý:
- Hạ tầng nhân sự: 10 công nhân thu gom trực tiếp trên địa bàn thị trấn Đồng Mỏ thuộc Công ty Môi trường và Dịch vụ đô thị Thành Linh, độ tuổi từ 18–35, lương bình quân 3,0 triệu đồng/người/tháng.
- Phương tiện thu gom: 20 xe đẩy tay dung tích 0,3 m³, 04 xe ép rác (hai xe 5 m³, hai xe 2 m³), 04 xe tải tải trọng 10–14 m³, 02 máy xúc 0,65 m³ và 01 máy ủi.
- Mức phí vệ sinh thu từ hộ gia đình là 12.000 đồng/tháng.
- Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn địa bàn thị trấn đạt khoảng 7,4 tấn/ngày (tính theo 20 chuyến xe thu gom phân bổ ở 8 khu phố/thôn), hệ số phát sinh bình quân đạt gần 0,9 kg/người/ngày.
- Tỷ lệ xử lý rác thải hiện hữu: 70% đốt bằng lò đốt thủ công sử dụng không khí tự nhiên, 30% chôn lấp tại bãi rác Đèo Quao. Quy trình khử trùng sơ bộ sử dụng chế phẩm vi sinh EM với liều lượng 20 lít cho mỗi lớp rác dày 30–40 cm tại cầu tập kết. Tỷ lệ rác được phân loại tái chế tại chỗ chỉ đạt khoảng 1–3%.
-
Dữ liệu thành phần cơ lý rác thải qua điều tra thực địa:
- Tại hộ gia đình: Khối lượng rác phát sinh trung bình mỗi hộ là 1,72 kg/ngày (tác giả ước lượng chung mức ngưỡng 2 kg/hộ/ngày; tương ứng 4.240 kg/ngày cho toàn bộ 2.120 hộ). Thành phần hữu cơ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 56,14%, rác tái chế chiếm 23,07%, các loại rác khác chiếm 20,79%.
- Tại chợ trung tâm huyện: Lượng rác biến động mạnh theo phiên chợ (ngày thường 750–900 kg/ngày, ngày giáp phiên 1.200 kg/ngày, ngày chính phiên 1.400 kg/ngày; trung bình 1.020 kg/ngày). Rác hữu cơ chiếm ưu thế vượt trội với 67,32%, rác tái chế chiếm 20,58%, rác khác chiếm 12,10%.
- Tại khối cơ quan, trường học: Khối lượng rác trung bình đạt 200 kg/ngày; trong đó rác hữu cơ chiếm 59,58%, rác tái chế (giấy tờ, vỏ chai nhựa) chiếm 29,08%, rác khác chiếm 11,33%.
-
Đóng góp thực tiễn của công trình:
- Cung cấp bộ số liệu sơ cấp đầu tiên được cân đo trực tiếp về thành phần và khối lượng rác thải sinh hoạt theo từng nguồn đặc trưng (dân cư, chợ, công sở) tại thị trấn Đồng Mỏ.
- Chỉ rõ các mắt xích yếu kém trong chuỗi quản lý chất thải rắn của địa phương: tỷ lệ thu hồi tái chế thấp, công nghệ xử lý thô sơ (đốt hở, chôn lấp chưa hợp vệ sinh gây ô nhiễm tại bãi rác Đèo Quao), thiếu chế tài xử phạt và định mức phí vệ sinh chưa bù đắp chi phí vận hành.
- Đề xuất nhóm giải pháp quản lý bám sát quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2014 và Nghị định 38/2015/NĐ-CP, kết hợp quy trình kỹ thuật thu gom, phân loại và xử lý thích hợp với điều kiện kinh tế cấp thị trấn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên nội dung và phạm vi nghiên cứu được văn bản thể hiện, công trình tồn tại các hạn chế sau:
- Quy mô mẫu khảo sát thực địa còn hạn chế: chỉ thí điểm phân loại tại 20 hộ gia đình thuộc một khu dân cư duy nhất (khu Hòa Bình II), chưa khảo sát rộng ra 7 khu phố và thôn Lũng Cút còn lại.
- Thời gian theo dõi ngắn (3 đến 6 ngày đối với hộ gia đình, 5 ngày đối với chợ và cơ quan) trong giai đoạn từ tháng 11/2016 đến tháng 3/2017 (mùa khô), chưa phản ánh được sự biến động về khối lượng và thành phần rác thải theo mùa mưa hoặc các dịp lễ tết nguyên đán.
- Nghiên cứu chưa tiến hành lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm đối với các chỉ tiêu hóa lý chuyên sâu của rác thải (độ ẩm, nhiệt trị, tỷ lệ C/N), cũng như chưa quan trắc chất lượng nước rỉ rác hay khí thải từ lò đốt và bãi chôn lấp Đèo Quao.
- Các giải pháp công nghệ đưa ra mới dừng ở sơ đồ khối nguyên tắc chung, chưa có tính toán thiết kế kỹ thuật, dự toán kinh phí đầu tư xây dựng bãi chôn lấp hay nhà máy sản xuất phân hữu cơ vi sinh.
Hướng nghiên cứu mở rộng cần thực hiện:
- Mở rộng quy mô điều tra trên nhiều cụm dân cư với mẫu số lớn hơn và theo dõi xuyên suốt các mùa trong năm để xác định chính xác hệ số dao động rác thải.
- Thực hiện quan trắc, lấy mẫu phân tích đánh giá mức độ ô nhiễm đất, nước ngầm và không khí xung quanh khu vực bãi chôn lấp rác Đèo Quao.
- Lập dự án tiền khả thi về kinh tế - kỹ thuật cho mô hình xử lý rác hữu cơ thành phân compost hoặc đầu tư lò đốt rác đạt chuẩn quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường khi thực hiện đồ án, khóa luận tốt nghiệp về đề tài đánh giá hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt đô thị quy mô nhỏ và vừa.
- Cán bộ kỹ thuật, chuyên viên thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chi Lăng, UBND thị trấn Đồng Mỏ trong việc tham chiếu dữ liệu định mức phát sinh rác, cơ cấu thành phần rác để xây dựng quy hoạch bãi rác và đề án quản lý chất thải rắn giai đoạn tiếp theo.
- Đơn vị cung ứng dịch vụ môi trường (Công ty Môi trường và Dịch vụ đô thị Thành Linh) sử dụng số liệu phương tiện, nhân lực và tải lượng rác để tối ưu hóa tuyến thu gom bằng xe đẩy tay và xe cơ giới.
Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong tài liệu gồm: phương pháp thiết kế biểu mẫu và quy trình phát túi 3 màu để điều tra phân loại rác tại nguồn ở cấp hộ gia đình; các bảng tổng hợp số liệu đo đạc thực địa tại chợ phiên trung tâm huyện và khối trường học; tổng hợp danh mục văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn thiết kế bãi chôn lấp và lò đốt rác của Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Đơn vị nào chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển rác thải tại thị trấn Đồng Mỏ và năng lực hoạt động ra sao?
Công tác thu gom, vận chuyển rác do Công ty Đô thị và Dịch vụ Thành Linh đảm nhiệm. Công ty có tổng số 22 công nhân (thu gom tại TT Đồng Mỏ, TT Chi Lăng và thôn Mỏ Đá xã Quang Lang), riêng địa bàn thị trấn Đồng Mỏ có 10 công nhân với mức lương bình quân 3 triệu đồng/tháng. Đội xe phục vụ gồm 04 xe ép rác (hai xe 5 m³, hai xe 2 m³), 04 xe tải chở rác (10–14 m³), 02 máy xúc (0,65 m³), 01 máy ủi và 20 xe đẩy tay (dung tích 0,3 m³).
2. Tổng khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày tại thị trấn Đồng Mỏ là bao nhiêu và định mức trên đầu người đạt mức nào?
Tổng khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh được thu gom trên địa bàn thị trấn khoảng 7,4 tấn/ngày (tương đương 74 tạ/ngày, tính dựa trên 20 lượt xe thu gom tại 8 khu phố/thôn). Chỉ số phát sinh rác thải sinh hoạt bình quân đạt gần 0,9 kg/người/ngày.
3. Phương pháp phân loại rác thải tại nguồn được thử nghiệm đối với các hộ gia đình như thế nào?
Tác giả chọn 20 hộ gia đình tại khu Hòa Bình II, phát 3 loại túi màu khác nhau để phân loại rác trong ngày: túi xanh đựng rác hữu cơ, túi trắng đựng rác tái chế, túi đen đựng các loại rác khác. Tác giả trực tiếp đến từng hộ cân riêng từng túi rác vào một giờ cố định trong ngày (1 lần/ngày), chu kỳ lặp lại từ 3 đến 6 ngày.
4. Khối lượng và thành phần rác thải tại chợ trung tâm huyện Chi Lăng biến động như thế nào qua khảo sát?
Lượng rác tại chợ trung tâm đạt trung bình 1.020 kg/ngày; trong đó ngày thường dao động từ 750 đến 900 kg/ngày, tăng mạnh vào ngày giáp phiên (1.200 kg/ngày) và ngày chính phiên (1.400 kg/ngày). Rác hữu cơ chiếm tỷ lệ cao nhất (67,32%), rác có thể tái chế chiếm 20,58%, và rác khác chiếm 12,10%.
5. Quy trình xử lý sơ bộ rác thải bằng chế phẩm sinh học được Công ty Thành Linh tiến hành ra sao?
Rác sau khi thu gom bằng xe đẩy tay được đưa về cầu tập kết rác thải Đồng Mỏ và đổ xuống thùng hoặc sàn xe chuyên dụng. Tại đây, rác được cào đều thành từng lớp dày trung bình 30–40 cm và tưới chế phẩm vi sinh EM với định mức 20 lít/lượt. Sau khi xe chở rác đến bãi rác Đèo Quao và đổ xuống, rác tiếp tục được phun xử lý bằng vi sinh EM để khử mùi và tiêu hủy ruồi muỗi, côn trùng gây hại.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hoàng Tiến Mạnh đã phản ánh chi tiết thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Đồng Mỏ (huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn) thông qua các số liệu điều tra thực địa cụ thể về nguồn thải, khối lượng và thành phần cơ học. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng lượng rác hữu cơ chiếm tỷ trọng chi phối (trên 56% tại hộ dân và trên 67% tại chợ), trong khi khâu xử lý vẫn phụ thuộc vào đốt thủ công (70%) và chôn lấp hở tại bãi Đèo Quao (30%) gây nguy cơ ô nhiễm thứ cấp. Các giải pháp quản lý và kỹ thuật được đề xuất mang tính sát thực, cung cấp cơ sở dữ liệu hữu ích phục vụ công tác quy hoạch và nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường đô thị tại địa phương.