Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa tại Việt Nam, chất thải rắn sinh hoạt phát sinh chưa được thu gom và xử lý thích hợp là một trong những nguyên nhân chính gây suy thoái môi trường. Thống kê toàn quốc tại thời điểm nghiên cứu cho thấy tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm, trong đó khu vực đô thị phát sinh 6,9 triệu tấn/năm (chiếm 54%), phần còn lại tập trung tại các huyện lỵ, thị xã và vùng nông thôn. Dự báo đến năm 2020, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị có thể đạt 22 triệu tấn/năm. Để kiểm soát thực trạng này, bên cạnh năng lực quản lý của cơ quan chức năng, sự tham gia phối hợp của người dân trong việc phân loại tại nguồn, thu gom và xử lý rác thải đóng vai trò then chốt. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật và phổ biến quy định môi trường ở nhiều địa phương vẫn chưa đồng bộ, dẫn đến nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư còn nhiều hạn chế.
Xã La Hiên là một xã miền núi nằm ở phía Tây của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, giữ vị trí cửa ngõ kết nối với thành phố Thái Nguyên trên trục Quốc lộ 1B. Dưới tác động của quá trình chuyển dịch kinh tế, gia tăng dân số và sự phát triển của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, chợ trung tâm, khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn xã ngày càng lớn. Trong khi đó, hệ thống hạ tầng thu gom, bãi xử lý rác tập trung chưa được đầu tư hoàn chỉnh, hiểu biết và tập quán xử lý rác của người dân địa phương chưa được điều tra cụ thể. Việc xả rác bừa bãi ra môi trường tự nhiên, sông suối và lề đường gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường sống. Từ thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến (chuyên ngành Khoa học Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên) đã tiến hành đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng phát sinh, công tác quản lý rác thải và nhận thức, thái độ của cộng đồng dân cư tại địa phương.
Mục tiêu chung của đề tài là xác định mức độ nhận thức của người dân về môi trường thông qua việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường sống tại địa bàn.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định gồm 4 nội dung đánh số theo văn bản:
- Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Tìm hiểu thực trạng của việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải tại xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Tìm hiểu nhận thức và thái độ của người dân tại xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên trong việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt.
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân, từ đó góp phần thay đổi hành vi trong việc bảo vệ môi trường.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhận thức, thái độ và hành vi của người dân về vấn đề ô nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao quát toàn bộ địa bàn xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi nghiên cứu về thời gian được thực hiện từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý luận, khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên các khái niệm khoa học xã hội và khoa học môi trường:
- Khái niệm "nhận thức", "thái độ", "ý thức", "hành vi" theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2011).
- Khái niệm "môi trường", "môi trường tự nhiên", "môi trường nhân tạo", "ô nhiễm môi trường", "ô nhiễm không khí", "ô nhiễm môi trường đất" và "ô nhiễm nước" (theo định nghĩa của Hiến chương Châu Âu về nước).
- Khái niệm "chất thải", "quản lý rác thải" và "hoạt động quản lý chất thải rắn" theo quy định tại Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ.
- Khái niệm "tiêu chuẩn môi trường" và "quản lý môi trường" theo tài liệu chuyên ngành của GS.TS. Lê Văn Khoa (2000).
Về cơ sở pháp lý, nghiên cứu căn cứ vào hệ thống văn bản pháp luật hiện hành tại thời điểm thực hiện đề tài, bao gồm:
- Luật Bảo vệ môi trường 2014 (thông qua ngày 23/06/2014).
- Luật Thuế bảo vệ môi trường (Luật số 57/2010/QH12).
- Các Nghị định của Chính phủ: Nghị định 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn; Nghị định 171/2009/NĐ-CP, Nghị định 81/2006/NĐ-CP và Nghị định 121/2004/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định 80/2006/NĐ-CP và Nghị định 21/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định 175/NĐ-CP; Nghị quyết 35/NQ-CP năm 2013 về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Các văn bản hướng dẫn kỹ thuật: Thông tư 05/2008/TT-BTNMT, Thông tư 01/2012/TT-BTNMT; Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD về hướng dẫn bảo vệ môi trường đối với địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn; Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6696-2000, TCVN 6705:2009 và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 25:2009/BTNMT về nước thải bãi chôn lấp chất thải rắn.
Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học sau:
- Phương pháp kế thừa và thu thập tài liệu thứ cấp: Tiếp cận báo cáo kinh tế - xã hội, dữ liệu thống kê dân số từ Ủy ban nhân dân xã La Hiên; tổng hợp sách báo, báo cáo chuyên đề về ô nhiễm môi trường và quản lý chất thải rắn trong nước và quốc tế.
- Phương pháp điều tra phỏng vấn: Thiết lập phiếu điều tra và thực hiện phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên 80 hộ gia đình phân bổ đều tại 16 xóm thuộc xã La Hiên để thu thập dữ liệu về hiện trạng phát sinh, thói quen xử lý rác và nhận thức, thái độ bảo vệ môi trường.
- Phương pháp xác định khối lượng và thành phần rác thải thực địa:
- Đối với hộ gia đình: Dân cư trong xã được chia thành 3 vùng theo đặc trưng kinh tế và hạ tầng: Vùng 1 (xóm Phố - kinh doanh buôn bán), Vùng 2 (8 xóm ven Quốc lộ 1B), Vùng 3 (7 xóm xa Quốc lộ 1B). Tác giả chọn 18 hộ gia đình đại diện từ các vùng (chọn xóm Phố ở Vùng 1; xóm Xuân Hòa và Trúc Mai ở Vùng 2; xóm Khuân Vạc và Cây Thị ở Vùng 3), phát túi nilon màu xanh (đựng rác hữu cơ) và túi màu đỏ (đựng rác vô cơ). Tiến hành cân rác mỗi ngày 1 lần vào buổi chiều liên tục trong 10 ngày liên tiếp để tính hệ số phát sinh bình quân đầu người và thành phần rác.
- Đối với khu vực chợ: Thực hiện cân rác chợ La Hiên 5 lần vào cuối các ngày họp chợ phiên (chu kỳ 5 ngày/phiên); xác định thành phần bằng phương pháp lấy 20 kg rác mẫu tại điểm tập kết (khu vực cầu La Hiên), phân loại và cân từng hợp phần cơ học.
- Đối với cơ quan, trường học, doanh nghiệp: Cân rác thải phát sinh tại 12 đơn vị (UBND xã, Trạm Y tế xã, 3 trường mầm non, 3 trường tiểu học, 3 trường THCS và Công ty Cổ phần xi măng La Hiên) 5 lần trong 5 ngày liên tiếp.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Ứng dụng thống kê toán học, phân tích tổng hợp và xử lý dữ liệu thu thập được bằng phần mềm Microsoft Excel 2007 kết hợp phương pháp tính toán thủ công.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh lượng chất thải rắn sinh hoạt gia tăng nhanh chóng nhưng năng lực xử lý tại các vùng nông thôn miền núi còn hạn chế. Nội dung xác định rõ mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, yêu cầu về độ tin cậy của số liệu và tính khả thi của giải pháp. Chương này cũng phân tích ý nghĩa học thuật trong việc củng cố phương pháp nghiên cứu thực tiễn cho sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý môi trường tại địa bàn nghiên cứu.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết có hệ thống cơ sở lý luận về hành vi môi trường và khung pháp lý tại Việt Nam. Đồng thời, tác giả khái quát các thách thức môi trường toàn cầu (suy giảm tài nguyên rừng, mất đa dạng sinh học, cạn kiệt tài nguyên nước ngọt, áp lực tiêu thụ năng lượng hóa thạch, hiện tượng nóng lên toàn cầu và áp lực bùng nổ dân số) và tại Việt Nam (độ che phủ rừng tự nhiên suy giảm còn 19,7%, thoái hóa đất, ô nhiễm từ 73 triệu tấn chất thải chăn nuôi mỗi năm, ô nhiễm làng nghề và khai thác khoáng sản).
Về chất thải rắn, tác giả dẫn các số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB, 2012) dự báo rác thải đô thị toàn cầu đạt 2,2 tỷ tấn vào năm 2025; phân tích bài học phân loại rác tại nguồn ở California (Mỹ) và Nhật Bản; phân tích hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Việt Nam (6,5 triệu tấn/năm, tỷ lệ thu gom toàn quốc chỉ đạt khoảng 31%). Các công nghệ xử lý tại Việt Nam được hệ thống hóa gồm chôn lấp, đốt rác nguy hại, ủ phân hữu cơ compost (nhà máy Cầu Diễn, Nam Định, Việt Trì), công nghệ VIBIO tại Cà Mau và tái chế nilon thành dầu PO tại Đà Nẵng. Ngoài ra, tác giả điểm luận các công trình nghiên cứu xã hội học môi trường tương tự tại phường Phú Thọ (Bình Dương), huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) và kết quả khảo sát của chương trình SELMA (Bộ Tài nguyên và Môi trường) để làm cơ sở so sánh.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả chi tiết vị trí nghiên cứu tại xã La Hiên và khung thời gian khảo sát thực địa từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014. Tác giả làm rõ nội dung 5 chuyên đề nghiên cứu và trình bày chi tiết quy trình lấy mẫu, công thức và công cụ điều tra: cách thức chọn mẫu 80 hộ điều tra bảng hỏi, cách phân chia 3 vùng dân cư để chọn 18 hộ gia đình đại diện cân rác trong 10 ngày, kỹ thuật phân loại túi xanh - túi đỏ và quy trình cân rác tại chợ La Hiên cùng 12 cơ quan, trường học, doanh nghiệp trên địa bàn.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung trình bày các dữ liệu thực nghiệm đã thu thập và thảo luận:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Xã La Hiên có diện tích 37,76 km², địa hình núi cao chia cắt phức tạp, khí hậu trung du chia làm hai mùa rõ rệt với lượng mưa bình quân 2.500 mm/năm. Toàn xã gồm 16 xóm, tổng số 2.096 hộ và 8.869 nhân khẩu. Hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, dịch vụ buôn bán tập trung ở xóm Phố (chợ La Hiên) và ven Quốc lộ 1B; trên địa bàn có Công ty Cổ phần xi măng La Hiên, trạm y tế và 9 trường học.
- Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt:
- Tiêu chuẩn phát sinh rác thải bình quân đầu người được xác định: Vùng 1 (xóm Phố) đạt 0,34 kg/người/ngày; Vùng 2 (ven Quốc lộ 1B) đạt 0,24 kg/người/ngày; Vùng 3 (xa Quốc lộ 1B) đạt 0,19 kg/người/ngày.
- Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình là 1.869,4 kg/ngày (682,3 tấn/năm).
- Rác thải phát sinh từ chợ La Hiên là 87,68 kg/ngày (31,565 tấn/năm).
- Rác thải từ 12 cơ quan, trường học, doanh nghiệp là 181,4 kg/ngày (65,3 tấn/năm).
- Tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên toàn xã đạt 2.138,48 kg/ngày (tương đương 779,165 tấn/năm).
- Thành phần rác thải hộ gia đình (phân tích từ 72 kg rác mẫu): Rác hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ lệ vượt trội với 63,18% (45,49 kg); kế đến là chất khác 9,51% (6,85 kg); vải sợi, đồ da 7,64% (5,50 kg); kim loại 6,04% (4,35 kg); giấy, bìa, carton 5,44% (3,92 kg); nhựa nilon 5,02% (3,61 kg) và chai lọ thủy tinh chiếm 3,17% (2,28 kg).
- Thực trạng phân loại, thu gom, xử lý và nhận thức của người dân: Kết quả khảo sát 80 phiếu phỏng vấn cho thấy phần lớn rác thải sinh hoạt chưa được phân loại triệt để tại nguồn; rác hữu cơ chủ yếu được các hộ tận dụng cho chăn nuôi hoặc ủ phân, rác vô cơ và nilon thường bị đốt hoặc chôn lấp tự phát trong vườn nhà, vứt ra sông suối. Đa số người dân nhận thức được tác hại của việc xả rác bừa bãi nhưng còn thiếu kiến thức kỹ thuật, thiếu thùng rác chuyên dụng và thiếu dịch vụ thu gom tập trung từ chính quyền địa phương.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tác giả tổng kết các kết quả định lượng về khối lượng, thành phần rác thải và các đặc trưng nhận thức, thái độ của cộng đồng dân cư xã La Hiên; trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị đối với UBND xã, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Võ Nhai cùng các tổ chức đoàn thể địa phương nhằm xây dựng phương án quản lý rác thải nông thôn hiệu quả.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả định lượng cụ thể về nguồn phát sinh và thành phần cơ học của chất thải rắn sinh hoạt tại xã La Hiên thông qua các bảng tổng hợp số liệu thực tế:
Bảng 1: Tổng hợp khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn xã La Hiên
| STT |
Nguồn gốc phát sinh |
Khối lượng (kg/ngày) |
Khối lượng (tấn/năm) |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Hộ gia đình (16 xóm) |
1.869,40 |
682,30 |
87,42 |
| 2 |
Chợ La Hiên |
87,68 |
31,565 |
4,10 |
| 3 |
Cơ quan, trường học, doanh nghiệp (12 đơn vị) |
181,40 |
65,30 |
8,48 |
| Tổng |
Toàn địa bàn xã |
2.138,48 |
779,165 |
100,00 |
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu cân rác của tác giả)
Số liệu cho thấy nguồn phát sinh chính là từ các hộ gia đình (chiếm 87,42%). Chi tiết nguồn phát sinh từ 12 cơ quan, đơn vị trên địa bàn gồm: UBND xã (6,5 kg/ngày); 3 trường mầm non (20,4 kg/ngày); 3 trường tiểu học (40,2 kg/ngày); 3 trường THCS (67,8 kg/ngày); Trạm Y tế xã (20,7 kg/ngày, gồm cả rác y tế); Công ty Cổ phần xi măng La Hiên (25,8 kg/ngày).
Bảng 2: Thành phần cơ học rác thải sinh hoạt từ hộ gia đình tại xã La Hiên
| STT |
Thành phần rác thải |
Khối lượng mẫu (kg) |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Rác hữu cơ (rau củ, thức ăn thừa...) |
45,49 |
63,18 |
| 2 |
Nhựa, nilon |
3,61 |
5,02 |
| 3 |
Giấy, bìa, carton |
3,92 |
5,44 |
| 4 |
Kim loại |
4,35 |
6,04 |
| 5 |
Chai lọ thủy tinh |
2,28 |
3,17 |
| 6 |
Vải sợi, đồ da |
5,50 |
7,64 |
| 7 |
Chất khác |
6,85 |
9,51 |
| Tổng |
Mẫu phân tích |
72,00 |
100,00 |
(Nguồn: Điều tra thực địa của tác giả, 2014)
Về kết quả khảo sát nhận thức và hành vi, đề tài chỉ ra sự phân hóa theo điều kiện kinh tế: khu vực trung tâm buôn bán có lượng phát sinh rác cao hơn hẳn khu vực nông nghiệp vùng sâu. Mặc dù người dân nhận thức được ô nhiễm rác thải ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, thói quen phân loại rác tại nguồn vẫn chưa hình thành do thiếu phương tiện thu gom, chưa có quy chế chế tài và dịch vụ vệ sinh môi trường xã chưa bao phủ tới các xóm.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất nhóm giải pháp:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục môi trường thông qua hệ thống loa truyền thanh xã, sinh hoạt chi bộ, hội phụ nữ, đoàn thanh niên để thay đổi thói quen vứt rác tùy tiện.
- Hướng dẫn các hộ gia đình thực hiện phân loại rác tại nguồn thành hai nhóm cơ bản: rác hữu cơ tận dụng làm thức ăn chăn nuôi hoặc ủ phân vi sinh phục vụ trồng trọt; rác tái chế (giấy, kim loại, nhựa) thu gom bán phế liệu; phần chất thải trơ khó phân hủy đưa vào hệ thống thu gom chung.
- Quy hoạch các điểm tập kết rác hợp vệ sinh tại các xóm và khu vực chợ La Hiên, thành lập tổ vệ sinh môi trường tự quản cấp xã thu phí dịch vụ định kỳ để vận chuyển rác về bãi xử lý quy định.
- Tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước của chính quyền địa phương trong việc giám sát, xử phạt các hành vi đổ rác vi phạm lòng đường và sông suối.
Đóng góp của khóa luận là đã xây dựng được cơ sở dữ liệu định lượng ban đầu về hệ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt theo vùng dân cư và thành phần cơ học rác thải tại xã La Hiên - một địa bàn miền núi đặc thù của tỉnh Thái Nguyên, kết hợp đánh giá thực chứng mức độ nhận thức của người dân phục vụ công tác quy hoạch môi trường nông thôn mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực hiện:
- Phạm vi thời gian nghiên cứu chỉ diễn ra trong vòng 5 tháng (từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014) vào giai đoạn chuyển mùa cuối năm, chưa phản ánh được sự biến động của khối lượng và thành phần rác thải sinh hoạt theo các mùa trong năm (đặc biệt là mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10).
- Quy mô mẫu thực nghiệm cân rác hộ gia đình mới dừng ở 18 hộ đại diện trên tổng số 2.096 hộ dân, và mẫu khảo sát nhận thức dừng ở 80 phiếu phỏng vấn ngẫu nhiên; do đó tính đại diện thống kê cho từng phân tầng xã hội chưa thật sự sâu rộng.
- Chưa tiến hành phân tích các chỉ tiêu hóa lý chuyên sâu của rác thải (độ ẩm, nhiệt trị, tỷ lệ C/N) để đánh giá toàn diện tiềm năng sản xuất phân compost công nghiệp hay thu hồi năng lượng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra gồm:
- Mở rộng phạm vi và chu kỳ theo dõi định lượng phát sinh rác thải qua cả 4 mùa để xác định chính xác hệ số dao động rác thải theo mùa vụ nông nghiệp và lễ tết.
- Nghiên cứu ứng dụng và đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các mô hình ủ phân hữu cơ vi sinh quy mô hộ gia đình phù hợp với điều kiện địa hình miền núi.
- Khảo sát sâu về khả năng sẵn sàng chi trả (WTP) của người dân nông thôn đối với các dịch vụ thu gom, xử lý rác tập trung để hỗ trợ xây dựng phương án tài chính cho tổ tự quản môi trường địa phương.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Quản lý Đất đai và Xã hội học Nông thôn có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa đo đạc khối lượng thực tế (cân mẫu rác theo túi nilon phân màu liên tục nhiều ngày) và phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi.
- Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, cán bộ phụ trách tiêu chí môi trường nông thôn mới tại huyện Võ Nhai và các huyện miền núi có điều kiện tương đồng có thể sử dụng các số liệu phát sinh (0,19 - 0,34 kg/người/ngày) và tỷ lệ thành phần hữu cơ (63,18%) làm tài liệu tính toán quy mô bãi chôn lấp hoặc lập đề án thu gom rác thải.
- Các nhà nghiên cứu quan tâm đến mảng nhận thức và hành vi môi trường của đồng bào dân tộc, cư dân vùng nông thôn miền núi trong việc quản lý chất thải rắn.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh mỗi ngày tại xã La Hiên là bao nhiêu và nguồn nào chiếm tỷ lệ lớn nhất?
Tổng khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên toàn xã là 2.138,48 kg/ngày (tương đương khoảng 779,165 tấn/năm). Trong đó, rác thải phát sinh từ các hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất với 1.869,40 kg/ngày (tương ứng 87,42%); khối cơ quan, trường học, doanh nghiệp phát sinh 181,40 kg/ngày (8,48%) và chợ La Hiên phát sinh 87,68 kg/ngày (4,10%).
2. Tiêu chuẩn phát sinh rác thải bình quân đầu người tại xã La Hiên có sự khác biệt như thế nào giữa các khu vực?
Tiêu chuẩn phát sinh rác có sự phân hóa theo vị trí địa lý và điều kiện kinh tế:
- Khu vực xóm Phố (tập trung buôn bán, kinh doanh dịch vụ): 0,34 kg/người/ngày.
- Khu vực các xóm ven Quốc lộ 1B (gồm 8 xóm): 0,24 kg/người/ngày.
- Khu vực các xóm vùng sâu xa Quốc lộ 1B (gồm 7 xóm): 0,19 kg/người/ngày.
3. Thành phần cơ học của rác thải sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình tại xã La Hiên có đặc trưng gì?
Qua kết quả phân loại 72 kg rác mẫu, thành phần rác thải sinh hoạt hộ gia đình có tỷ lệ chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm ưu thế tuyệt đối với 63,18% (45,49 kg). Các thành phần còn lại gồm: vải sợi, đồ da chiếm 7,64%; kim loại chiếm 6,04%; giấy, bìa, carton chiếm 5,44%; nhựa nilon chiếm 5,02%; chai lọ thủy tinh chiếm 3,17% và các chất khác chiếm 9,51%.
4. Tác giả đã triển khai phương pháp cân rác hộ gia đình trên thực địa như thế nào?
Tác giả phân chia xã làm 3 vùng dân cư và chọn 18 hộ gia đình đại diện tại các xóm Phố (Vùng 1), Xuân Hòa, Trúc Mai (Vùng 2), Khuân Vạc, Cây Thị (Vùng 3). Sau đó, tác giả phát túi nilon màu xanh để đựng rác hữu cơ và túi màu đỏ để đựng rác vô cơ cho các hộ, tiến hành thu gom và cân rác vào buổi chiều mỗi ngày 1 lần trong 10 ngày liên tiếp.
5. Lượng rác thải phát sinh từ các trường học, cơ quan và doanh nghiệp trên địa bàn xã La Hiên được ghi nhận cụ thể là bao nhiêu?
Tổng khối lượng rác từ 12 cơ quan, đơn vị là 181,4 kg/ngày (65,3 tấn/năm), cụ thể: UBND xã phát sinh 6,5 kg/ngày; 3 trường mầm non phát sinh 20,4 kg/ngày; 3 trường tiểu học phát sinh 40,2 kg/ngày; 3 trường THCS phát sinh 67,8 kg/ngày; Trạm Y tế xã phát sinh 20,7 kg/ngày (bao gồm rác y tế) và Công ty Cổ phần xi măng La Hiên phát sinh 25,8 kg/ngày.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Hải Yến đã phản ánh bức tranh toàn diện về hiện trạng phát sinh, thành phần chất thải rắn sinh hoạt và nhận thức cộng đồng tại xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Công trình đã cung cấp hệ thống số liệu định lượng thực địa tin cậy với tổng lượng rác phát sinh 2.138,48 kg/ngày, trong đó chất hữu cơ chiếm tới 63,18% và hộ gia đình là nguồn thải chủ lực (87,42%). Đồng thời, nghiên cứu làm rõ các khoảng trống trong công tác thu gom, phân loại rác tại nguồn cũng như rào cản nhận thức của người dân miền núi, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao ý thức cộng đồng và hoàn thiện cơ chế quản lý chất thải rắn phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương.