chương 1 Luật Tài nguyên nước, ‘‘Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo’’. - Nước ngầm : ‘‘Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người’’. - Chất thải: Theo khoản 12 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014, ‘‘Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác’’. * Tiêu chuẩn môi trường : Theo khoản 6 điều 3 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014: ‘‘Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kĩ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường’’.
Nguồn gốc và các dấu hiệu nhận biết nước bị ô nhiễm * Nguồn gốc của ô nhiễm môi trường nước Môi trường nước rất dễ bị ô nhiễm, có thể do từ môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo : - Môi trường tự nhiên: các nguồn ô nhiễm từ không khí, đất; do mưa, tuyết tan, bão , lũ lụt. đưa vào môi trường nước các chất bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng. - Môi trường nhân tạo: chủ yếu là nguồn thải của các nhà máy, khu công nghiệp,khu dân cư, giao thông vận tải, các hóa chất từ hoạt động nông, lâm nghiệp đưa vào môi trường nước. * Nguồn nước bị ô nhiễm có các dấu hiệu đặc trưng sau: - Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm xuống đáy nguồn.
- Thay đổi tính chất lý học ( độ trong, màu, mùi , nhiệt độ,.) - Thanh đổi thành phần hóa học (pH, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ, xuất hiện các chất độc hại.) - Lượng oxi hòa tan (DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hóa để oxi hóa các chất bẩn hữu cơ vừa mới thải vào. - Các vi sinh vật thay đổi về loài và số lượng. Có xuất hiện các vi trùng gây bệnh. Đánh giá chất lượng nước Chất lượng nước được đánh giá bởi các chỉ tiêu, thông số sau: * Các thông số lý học: - Độ màu, độ đục, nhiệt độ, pH, tổng hàm lượng chất rắn (TS), tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS), tổng hàm lượng chất rắn hòa tan.
c 7 * Các thông số hóa học: - Độ kiềm toàn phần, độ cứng của nước, các kim loại nặng, hàm lượng oxi hòa tan trong nước (DO), nhu cầu oxi sinh hóa (BOD), nhu cầu oxi hóa học (COD). * Các thông số sinh học: - Coliform: Là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường, xác định mức ô nhiễm bẩn về mặt sinh học của nguồn nước. Các dạng ô nhiễm nước thường gặp - Ô nhiễm chất hữu cơ: là sự có mặt của các chất tiêu thụ oxy trong nước. Các chỉ tiêu để đánh giá ô nhiễm chất hữu cơ là: DO, BOD, COD.
- Ô nhiễm các chất vô cơ: là có nhiều chất vô cơ gây ô nhiễm môi trường nước, tuy nhiên có một số nhóm điển hình như: các loại phân bón vô cơ, các khoáng axit, cặn, các nguyên tố vết. - Ô nhiễm các chất phú dưỡng: phú dưỡng là sự tăng hàm lượng Nito, Photpho trong nước nhập vào các thủy vực dẫn đến sự tăng trưởng của thực vật bậc thấp (rong, tảo…). - Ô nhiễm do kim loại nặng và các hóa chất khác: thường gặp trong thủy vực gần khu công nghiệp, khu vực khai khoáng, trong khu vực thành phố. - Ô nhiễm vi sinh vật.
- Ô nhiễm nước mặt bởi dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Cơ sở pháp lý Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần quan trọng , là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước, mặt khác nước cũng có thể gây nên những tai họa cho con người và môi trường. Do vậy, việc quản lý tài nước đòi hỏi một hệ thống các văn bản bảo vệ và khai thác nguồn nước nhằm tạo cơ sở pháp lý c 8 cho công tác này. Các biện pháp mang tính chất pháp lý, thiết chế này được áp dụng cho việc sử dụng và phân phối tài nguyên nước, đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên nước.
Các văn bản pháp lý trong quản lý tài nguyên nước đang có hiệu lực: - Luật bảo vệ môi trường năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. - Luật tài nguyên nước năm 2012 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013. - Nghị định 19/2015/NĐ – CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều trong Luật Bảo vệ môi trường. - Quyết định số 16/2008/QĐ – BTNMT ngày 31 tháng 11 năm 2008 của Bộ Tài nguyên môi trường ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
- TCVN 5994:1995 (ISO 5667-4: 1987) – chất lượng nước – lấy mẫu. Hướng dẫn lấy mẫu ở ao hồ tự nhiên và nhân tạo. - TCVN 5996:1995 (ISO 5667-6: 1990) – Chât lượng nước – lấy mẫu. Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối.
- QCVN 08-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. - QCVN 09-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất. Hiện trạng nguồn nước trong và ngoài nước 2. Hiện trạng nguồn nước trên thế giới Vấn đề về tài nguyên nước được thực hiện trong tổ chức Liên Hợp Quốc, các chương trình và các quỹ có vai trò đáng kể trong việc giải quyết mối quan tâm tới nước ngọt của toàn cầu.
Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới c 9 năm 2002 về vấn đề phát triển bền vững và bắt đầu thiên niên kỷ của tài nguyên nước đã đặt mục tiêu phát triển và hỗ trợ các nước thành viên để đạt được các mục tiêu và các chỉ tiêu về nước sạch và vệ sinh môi trường. Công việc của tổ chức bao gồm tất cảc các khía cạnh của nguồn nước ngọt bao gồm cả tài nguyên nước và các dòng chảy sông ngòi, nước ngầm và nước biển (Nguồn: Status Report on Integrated Water Resources Management and Water Efficiency Plans, Prepared for the 16th session of the Commission on Sustainable Development, Vietnam, 2008). Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km3, tập trung trong thuỷ quyển 97,2% (1,35 tỷ km3), còn lại trong khí quyển và thạch quyển. 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông và hồ.
Lượng nước trong khí quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối 0,00007% tổng lượng nước trên trái đất. Lượng nước ngọt con người sử dụng xuất phát từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất 105. Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp). (Nguồn: “Vai trò của nước” https://tusach.com/wiki/Nước_đóng_vai_trò_quan_trọng_ như_thế_nào%3F ) c 10 Bảng 2.1: Phân bố và dạng của nước trên trái đất [4] Thể tích nước Phần trăm Phần trăm Thể tích nước Nguồn nước tính bằng dặm của nước của tổng tính bằng km3 khối ngọt lượng nước Đại dương, biển và 1.000 - 96,5 vịnh Đỉnh núi băng, sông băng và vùng tuyết 24.000 68,7 1,74 phủ vĩnh cửu Nước ngầm: 23.959 0,05 0,001 Băng chìm và băng 300.790 0,86 0,022 tồn tại vĩnh cửu Các hồ: 176.900 3,095 0,04 0,001 Nước đầm lầy 11.120 509 0,006 0,0002 Nước sinh học 1.000 - 100 Như vậy nước trên bề mặt trái đất tồn tại trên biển và đại dương là nhiều nhất, chiến tới 97,2%.
Về lượng nước ngọt trên thế giới được phân bố ở các dạng như băng đá, trong sông hồ, nước ngầm. Hiện trạng nguồn nước ở Việt Nam Việt Nam có 3450 sông, suối với chiều dài từ 10 km trở lên. Các sông suối này nằm trong 108 lưu vực sông được phân bố và trải dài trên cả nước. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn tài nguyên nước khá phong phú cả về lượng mưa, nguồn nước mặt trong các hệ thống sông, hồ và nguồn nước dưới đất.
Về lượng mưa: lượng mưa trung bình năm của Việt Nam vào khoảng 1940-1960mm (tương đương tổng lượng nước khoảng 640 tỷ m3/năm), thuộc số quốc gia có lượng nước mưa vào loại lớn trên thế giới. Tuy nhiên, lượng mưa của Việt Nam phân bố rất không đều theo không gian và thời gian. Lượng mưa tập trung chủ yếu trong 4-5 tháng mùa mưa (chiếm 75-85% tổng lượng mưa năm), lượng mưa trong mùa khô chỉ chiếm 15-25%. Khu vực có lượng mưa lớn là các khu vực phía Đông Trường Sơn thuộc vùng Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Tây Nguyên và khu vực trung du, miền núi Bắc Bộ.
Về nước mặt: tổng lượng dòng chảy hàng năm khoảng 830-840 tỉ m3, trong đó tập trung chủ yếu (khoảng 57%) ở lưu vực sông Cửu Long, hơn 16% ở lưu vực sông Hồng-Thái Bình, hơn 4% ở lưu vực sông Đồng Nai, còn lại ở các lưu vực sông khác. Tuy nhiên, lượng nước sinh ra ở phần lãnh thổ Việt Nam chỉ chiếm khoảng 310-315 tỷ m3/năm (khoảng 37%), chủ yếu thuộc các lưu vực sông Hồng-Thái Bình, Đồng Nai, Cả, Ba, Vũ Gia-Thu Bồn. Để đáp ứng các yêu cầu trữ lượng, điều tiết dòng chảy phục vụ cấp nước trong mùa khô và phòng, chống và giảm lũ, lụt trong mùa mưa, Việt Nam đã, đang và tiếp tục phát triển hệ thống các hồ chứa nước. Theo kết quả thống kê, rà soát sơ bộ, cả nước có trên 2.900 hồ chứa thủy điện, thủy lợi đã vận hành, đang xây dựng hoặc đã có quy hoạch xây dựng với tổng dung tích trên 65 tỷ m3.100 hồ đang vận hành, tổng dung tích hơn c 12 34 tỷ m3 khoảng 240 hồ đang xây dựng, tổng dung tích hơn 28 tỷ m3, trên 510 hồ đã có quy hoạch, tổng dung tích gần 4 tỷ m3.
Trong số các hồ nêu trên, có khoảng 800 hồ thủy điện, tổng dung tích trên 56 tỷ m3, gồm 59 hồ đang vận hành, 231 hồ đang xây dựng và hơn 500 hồ đã có quy hoạch xây dựng và hơn 2.