MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nói chung và khu vực nông thôn nói riêng. Các làng nghề có tác dụng rất lớn đối với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Chỉ riêng các tỉnh đồng bằng Sông Hồng đã có 203 làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển, đồng thời có tới 523 làng nghề mới được hình thành trong thời gian gần đây.
Tuy nhiên sự phát triển của các làng nghề còn mang tính tự phát, tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng và xuất hiện xung đột môi trường. Bắc Ninh là một tỉnh có rất nhiều làng nghề, đứng nhất nhì toàn quốc, có các làng nghề có vài trăm năm trước như đúc đồng Đại Bái, sắt thép Đa Hội, đồ gỗ Hương Mạc, Đồng Kỵ, Phù Khê, giấy Phong Khê… Nhìn chung cho tới năm nay các làng nghề đều vẫn tồn tại và một số nghề rất phát triển, đem lại sự phồn thịnh, phát triển cho nhân dân có làng nghề như gỗ Đồng Kỵ, giấy Phong Khê, sắt thép Đa Hội… Song song với sự phát triển và lớn mạnh của các làng nghề thì lại xuất hiện nhiều mặt tiêu cực cùng phát sinh từ làng nghề nhất là ở các cụm công nghiệp làng nghề như: khói, bụi, ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng nguồn tài nguyên nước, sự đào thải ra các chất phế liệu, chất thải rắn, tiếng ồn, độ rung… Đa Hội là một trong những làng nghề đứng đầu sản xuất thép tỉnh Bắc Ninh, hàng năm cung cấp hàng trăm nghìn tấn thép ra thị trường, tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn người lao động, góp phần vào công việc đổi mới của Huyện, Tỉnh. Tạo điều kiện phát triển kinh tế vùng đặc biệc là nhân dân trong xã. Song bên cạnh đó hiện nay cũng phát sinh không ít những vấn đề về môi trường trong đó tập trung chủ yếu là khói bụi, nước thải và chất thải rắn gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống sản xuất và sinh hoạt.
Do đặc trưng của làng nghề nên vấn đề về môi trường trong các làng nghề nói chung và làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội – Châu Khê nói riêng hiện nay đang là “điểm nóng" trong nhiều đề tài nghiên cứu. Tìm hiểu nguồn n 2 phát sinh gây ô nhiễm, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề là rất cần thiết. Xuất phát từ tình hình thực tế và nguyện vọng của người dân ở làng nghề cùng với sự phân công của khoa Môi Trường thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội – Xã Châu Khê – Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh”. Mục đích, yêu càu của đề tài 1.
Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng môi trường nước làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội. - Những ảnh hưởng do ô nhiễm nước gây ra. - Đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu và khắc phục ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn. Yêu cầu của đề tài - Số liệu thu thập phản ánh trung thực khách quan.
- Kết quả phân tích phải chính xác. - Những kiến nghị đưa ra phải phù hợp với thực tế của địa phương. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý 2.
Cơ sở lý luận - Một số khái niệm về môi trường Theo UNESCO, môi trường được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người” (Paper JAAPU) [14]. Theo "Luật Bảo vệ môi trường" của nước CHXHCN Việt Nam thì môi trường được khái niệm như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên“ (Luật bảo vệ môi trường, 2005) [9]. - Khái niệm về tài nguyên nước: Là một dạng tài nguyên thiên nhiên vừa hữu hạn vừa vô hạn và chính bản thân nước có thể đáp ứng yêu cầu của cuộc sống như ăn uống, sinh hoạt, hoạt động công nghiệp, năng lượng, giao thông vận tải, du lịch. - Khái niệm nước mặt: Là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.
- Khái niệm nước ngầm: Là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất. - Ô nhiễm môi trường : là sự tích lũy trong môi trường các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường khiến cho môi trường trở lên độc hại đối với con người và sinh vật. - Khái niệm về suy thoái ô nhiễm nguồn nước: Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật. n 4 Theo hiến chương Châu Âu: Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho nông nghiệp, cho công nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại.
- Các dạng ô nhiễm nước: Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước. Hoặc dựa vào nguồn gốc gây ô nhiễm như ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp hay sinh hoạt. Hoặc dựa vào môi trường nước như ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương. Hoặc dựa vào tính chất của ô nhiễm như ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý.
Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội Nước CHXHCN VN thông qua ngày 29/11/2005. - Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. - Nghị định số 80/2006/NĐ-C ngày 9 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 8 tháng 9 năm 2006 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Nghị quyết 04-NQ/TW của tỉnh Bắc Ninh năm 1998 về phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp. Trong đó có giải quyết về quy hoạch tạo mặt bằng sản xuất, thí điểm xây dựng mô hình Khu công nghiệp làng nghề đạt tiêu chuẩn môi trường. - Quyết định số 81/2006/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020.
- Quyết định số 193/2001/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ về xúc tiến việc xác lập và đưa vào hoạt động quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp, hộ sản xuất trong các ngành nghề. n 5 - Thông tư liên tịch số 80/2007/TTLT – BTC – BNN ngày 11/07/2007 của Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cho chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2006 – 2010. - Chỉ thị số 36/2008/CT – BNN ngày 20/02/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường trong Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. - Hệ thống các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5942-1995, TCVN 5945- 1995, TCVN 5944-1995).
+ TCVN 5942–1995 : giá trị giới hạn cho phép các thông số và nồng độ chất ô nhiễm cơ bản trong nước mặt. + TCVN 5944–1995 : giá trị giới hạn cho phép các thông số và nồng độ chất ô nhiễm cơ bản trong nước ngầm. + TCVN 5945-2005 : giái trị giới hạn cho phép các thông số và nồng độ chất ô nhiễm cơ bản trong nước thải. Hiện trạng môi trường nước trên Thế Giới và ở Việt Nam Vấn đề ô nhiễm nước là một trong những thực trạng đáng ngại nhất của sự hủy hoại môi trường tự nhiên cho nền văn minh đương thời.
Khủng hoảng về nước đang hoành hành cả hành tinh, không riêng ai cả. Cơ chế ô nhiễm nước thì được biết rõ. Chủng loại các loại ô nhiễm, cách tác động sinh học của chúng ta đã được nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên, vấn đề là những chất thải rắn có thể được hòa tan hoặc lơ lửng trong nước sẽ được mang đi xa nguồn thải.
Do sự đồng nhất của môi trường nước, các chất gây ô nhiễm gây tác động lên toàn bộ sinh vật ở dưới dòng, đôi khi cả vùng ven bờ và vùng khơi của biển. Vấn đề đặc biệt nữa là nước là dung môi của nhiều chất, nước chảy qua những địa hình thấp và vùng nghèo O2 hòa tan. Nhiệt độ càng cao thì O2 hòa tan càng ít, điều này chứng tỏ rằng O2 là nhân tố hạn chế trong môi trường nước. Từ điều đó ta thấy : - Động vật thủy sinh phải có sự trao đổi khí qua mang rất mạnh, dễ bị ảnh hưởng của ô nhiễm hóa học.
- Chúng có thể thiếu O2 khi nhiệt độ gia tăng, nhất là vào mùa hè, lưu lượng nước sông ít, nhiệt độ cao. n 6 - Dao động nhiệt của nước sông ít, đa số sinh vật hẹp nhiệt. Các đặc điểm trên cho thấy môi trường nước rất dễ bị ô nhiễm, các ô nhiễm từ đất, không khí đều có thể làm nước ô nhiễm, ảnh hưởng đến đời sống của con người và sinh vật khác. Hiện trạng môi trường nước trên Thế Giới Tổng lượng nước trên Thế Giới ước tính khoảng 332 tỷ dặm khối.
Trong đó nước đại dương chiếm 94,4%, khoảng 2% tồn tại dạng băng tuyết ở các cực và 0,6% ở các bể chứa khác. Trên 80% lượng nước băng tồn tại ở Nam Cực và chỉ có hơn 10% ở Bắc Cực, phần còn lại là ở các đỉnh núi hoặc sông băng. Lượng nước ngọt chúng ta có thể sử dụng được ở các sông, suối, hồ nước ngầm chỉ khoảng 2 triệu dặm khối ( 0,6% tổng lượng nước ) trong đó nước mặt chỉ có 36.000 km3 còn lại là nước ngầm. Tuy nhiên việc khai thác nguồn nước ngầm để sử dụng hiện nay gặp rất nhiều khó khăn và tốn kém.