Chương 1 LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU, LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU 1. Những khái niệm chủ yếu liên quan 1. Khái niệm môi trường Hiện nay khái niệm môi trường được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu quan niệm rằng: Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu.
Sự rối loạn bất ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Con người và xã hội xuất thân từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên. Thông qua quá trình lao động, con người khai thác bảo vệ bồi đắp cho thiên nhiên. Cũng qua quá trình đó con người xã hội dần dần có sự đối lập với tự nhiên1.
Tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu cho rằng dùng thuật ngữ môi trường được hiểu theo nghĩa như trên xét dưới góc độ nghiên cứu và pháp lý là không chính xác. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về môi trường. Có thể kể đến một số góc độ như sau: Theo định nghĩa của S.Kalesnik (1959, 1970) môi trường (được định nghĩa với môi trường địa lí) chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người2. Trong tài liệu môi trường và tài nguyên Việt Nam đã 1 http://hcmup.php?option=com_content&view=article&id=8100%3Amoi-trng-sinh-thai-van-e- cua-moi-ngi&catid=3610%3Avn-hom-nay&Itemid=6321&lang=vi&site=51 2 S.Kalesnik: Các quy luật địa lí chung của trái đất.1970 8 đưa ra định nghĩa môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kì hay một xã hội" 3.
Như vậy, từ đó có thể nhận thấy khái niệm về môi trường xét theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Còn theo nghĩa hẹp thì không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người được nhận và cần được bảo vệ. Xét dưới góc độ ngôn ngữ: theo từ điển Tiếng Việt thì ghi nhận: Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó.
Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con. Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó. Hoặc môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người 4… Môi trường là nơi xảy ra hiện tượng hoặc diễn ra một quá trình, trong quan hệ với hiện tượng quá trình ấy hoặc môi trường là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy. Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng 5.
Những cách hiểu về môi trường như trên có đặc điểm chung là xem xét môi trường là một hệ thống có sự tác động đến con người. Theo cách hiểu thông thường thì khái niệm về môi trường đa phần không quan tâm đến tác động của nó là gì? Trên thực tế thì những 3 Môi trường và tài nguyên Việt Nam - NXB Khoa học và kỹ thuật, xuất bản năm 1984 4 Trung tâm từ điển học (2008),Từ điển Tiếng Việt ,NXB Đà Nẵng 5 Môi trường và tài nguyên Việt Nam - NXB Khoa học và kỹ thuật, xuất bản năm 1984 9 tác động đó giữa vai trò như thế nào đối với sự phát triển của xã hội hiện nay? Từ đó đưa ra một định nghĩa mang tính chất tương đối về môi trường nói chung. Tuy nhiên, với định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt không chỉ quan tâm đến bản chất của môi trường gồm những yếu tố nào mà còn quan tâm đến tác động của nó đến con người và xã hội. Như vậy, dưới một góc độ nào đó thì việc định hình một cách cơ bản khái niệm về môi trường là điều hoàn toàn cần thiết, để từ đó, có thể áp dụng vào các quy định của pháp luật nhằm thực hiện mục tiêu là quản lý một cách có hiệu quả từ phía các cơ quan có thẩm quyền ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Dưới góc độ pháp lý, theo định nghĩa của UNESCO(1981) môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra (tập quán, niềm tin) trong đó con người sống và lao động, khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình6. Theo đó thì UNESCO đã lần đầu đưa ra một định nghĩa nhằm tạo nền tảng cho việc hình thành một khái niệm cơ bản về môi trường của tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc. Từ định nghĩa trên thì việc pháp điển hóa thành các quy định của mỗi quốc gia là khác nhau nhằm phù hợp với sự nhìn nhận, văn hóa, sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đó nói chung. Ở nước ta, tại Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định tại khoản 1 Điều 3 quy định: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật7.
Từ khái niệm trên, có thể đưa ra những đặc điểm chung, cơ bản của khái niệm môi trường như sau: Thứ nhất, môi trường được xem là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo. Đây là một đặc điểm mang tính đặc trưng của môi trường. Yếu tố tự nhiên là yếu tố mang tính chất sẵn có, được hình thành và không chịu sự tác động của con người. Yếu tố nhân tạo là có sự tác động của con người, hiểu một cách cụ 6 Trương Quang Học (2012), Việt Nam thiên nhiên môi trường và phát triển bền vững, Nxb Khoc học và kỹ thuật, Hà Nội.
7 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 10 thể đó là do con người hình thành và phát triển. Các yếu tố tự nhiên và nhân tạo có sự tác động và qua lại, từ đó hình thành nên một hệ thống có sự tác động vào các đối tượng ở bên trong nó. Thứ hai, quá trình tác động là vào sự tồn tại và phát triển của các đối tượng. Việc các yếu tố tự nhiên và nhân tạo tác động vào sự tồn tại và phát triển của những đối tượng bên trong nó là điều kiện cần thiết.
Xác định vai trò quan trọng của yếu tố môi trường. Đồng thời, khẳng định tính tất yếu rằng tất cả mọi sự vật hiện tượng luôn luôn chịu sự tác động của môi trường dù ít hay nhiều hoặc dưới góc độ tự nhiên hoặc nhân tạo. Thứ ba, chủ thể bị tác động đó là con người và sinh vật. Môi trường có sự tác động đến sự phát triển và tồn tại của con người và sinh vật.
Tất cả các sinh vật và con người luôn luôn chịu tác động của yếu tố môi trường và không có trường hợp nào là ngoại lệ. Yếu tố môi trường tác động vào các chủ thể từ khi hình thành và phát triển cũng như tồn tại của các chủ thể đó. Điều này cính là đặc trưng nổi bật của yếu tố môi trường so với các yếu tố khác trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của loài người. Với quy định như trên thì luật bảo vệ môi trường 2014 trong thực tế đã điều chỉnh một cách tương đối hợp lý các vấn đề liên quan đến pháp luật môi trường ở nước ta hiện nay.
Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm về môi trường của các nhà nghiên cứu thì pháp luật Việt Nam đã đưa ra một khái niệm về môi trường một cách hoàn thiện phù hợp với thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Tạo ra nền tảng pháp lý cơ sở cho các hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, phòng chống các hành vi vi phạm về pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta trong tiến trình hội nhập kinh tế - quốc tế. Khái niệm bảo vệ môi trường và vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường trong đời sống xã hội và đời sống pháp luật nói chung * Khái niệm Hiện nay, về cơ bản chưa có một khái niệm pháp lý mang tính tổng hợp về hoạt động bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu, cũng như Điều 3 Luật bảo vệ Môi trường 2014, tác giả đưa ra khái niệm bảo vệ môi trường như sau: Bảo vệ môi trường là hoạt động của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội nhằm giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học.8 Trên cơ sở khái niệm trên thì hoạt động bảo vệ môi trường có một số đặc điểm như sau: Một là, BVMT là hoạt động của NN, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội.
Như vậy, trong hoạt động BVMT không loại trừ cá nhân, tổ chức nào hoặc cơ quan NN có thẩm quyền. Không một chủ thể nào đứng ngoài hoạt động bảo vệ môi trường nói chung. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động bảo vệ môi trường ở nước ta và trên thế giới hiện nay. Hai là, mục tiêu của hoạt động BVMT nói chung là nhằm giữ gìn và phát triển môi trường xanh – sạch – đẹp.