Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài luận án. Chương 2: Những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về môi trường; Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về môi trường tại tỉnh Hải Dương; Chương 4: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về môi trường từ thực tiễn tỉnh Hải Dương. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và nhận xét về tình hình nghiên cứu 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Trên thế giới, quản lý nhà nước (QLNN) về môi trường được đặt ra ở Châu Âu và Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ thứ 19 đầu thế kỷ 20, xuất phát chủ yếu từ những lo ngại trong việc bảo vệ vùng nông thôn ở Châu Âu, các vùng đất hoang dã ở Hoa Kỳ, cũng như những tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe của con người do hậu quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 2. Đối lập với quan điểm thống trị của chủ nghĩa tự do khi đó cho rằng tất cả các vấn đề xã hội, bao gồm cả vấn đề môi trường, có thể và cần được giải quyết thông qua thị trường tự do, hầu hết các nhà nghiên cứu về môi trường thời kỳ đó đều khẳng định Chính phủ thay vì thị trường phải có trách nhiệm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường (BVMT) cho con người. Ở Việt Nam, so với thế giới, công tác BVMT được đặt ra muộn hơn do một thời kỳ dài nước ta bị chiến tranh chi phối. Trước khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, kinh tế - xã hội chậm phát triển nên những vấn đề môi trường chưa xuất hiện nhiều, chưa trở thành vấn đề bức xúc của người dân và xã hội.
Cùng với quá trình Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá, phát triển kinh tế theo quy mô chiều rộng và dựa nhiều vào tài nguyên thiên nhiên các vấn đề môi trường ngày càng xuất hiện nhiều, gây hại cho sức khoẻ và đời sống của người dân, là thách thức lớn cho quá trình phát triển bền vững (PTBV) của đất nước, đòi hỏi nhà nước và toàn xã hội phải quan tâm xử lý, từ đây các công trình nghiên cứu về BVMT nói chung trong đó có QLNN về môi trường được giới nghiên cứu quan tâm, trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Trên cơ sở tra cứu các đề tài nghiên cứu khoa học, giáo trình, sách chuyên khảo, các luận án, luận văn, các báo cáo khoa học, bài viết nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, nghiên cứu sinh tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án theo các nhóm vấn đề sau: 8 1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận quản lý môi trường, pháp luật môi trường làm cơ sở tiến hành quản lý nhà nước về môi trường Bàn về cơ sở khoa học quản lý môi trường, được đề cập ở những khía cạnh khác nhau trong các nghiên của các tác giả: Lưu Đức Hải (2009)[38], Học viện Nông nghiệp (2021)[47], Phạm Thị Tính (2015)[105] Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2023)[121] đã chỉ ra các cơ sở QLNN về môi trường gồm: (i) Cơ sở triết học là sự thống nhất biện chứng giữa con người - xã hội - tự nhiên. (ii) Cơ sở chính trị là trách nhiệm của nhà nước trong bảo đảm thực hiện quyền con người được sống trong môi trường trong lành.
(iii) Cơ sở pháp luật là pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về quản lý môi trường. (iv) Cơ sở kinh tế là sự điều tiết thông qua các công cụ kinh tế. (v) Cơ sở khoa học công nghệ là trình độ của khoa học công nghệ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng xử lý các vấn đề tiêu cực của môi trường. Về khái niệm QLNN về môi trường, được đề cập trong các giáo trình của Đại học Đà Nẵng (2002)[29], Học viện Hành chính quốc gia (2004, 2010) [40],[41], Trường Đại học Luật Hà Nội (2011)[122], các luận án, luận văn QLNN bằng pháp luật về BVMT - từ thực tiễn tỉnh Hải Dương của Nguyễn Thị Hồng Linh (2015)[63], QLNN về BVMT ở tỉnh Trà Vinh của Huỳnh Minh Luân (2016)[64], QLNN về môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình của Hoàng Văn Tuân (2017) [106], QLNN về môi trường từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng của Trần Viết Trung (2017) [118].
cho thấy hiện nay chưa có một định nghĩa QLNN về môi trường thống nhất. Tuy nhiên, xét về chủ thể, các nghiên cứu đó đã chỉ ra QLNN về môi trường xác định chủ thể quản lý là Nhà nước, bằng chức trách nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ môi trường. Nghiên cứu công cụ QLNN về môi trường có các công trình tiêu biểu: Sách Các công cụ quản lý môi trường của Đặng Mộng Lân đã đề cập tới vai trò không thể thiếu của quản lý môi trường đối với PTBV và phân tích các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường như: thông tin môi trường, báo cáo hiện trạng môi trường, đánh giá tác động môi trường, hạch toán tài nguyên thiên nhiên và môi trường [59]. 9 Sách Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường – kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam do tác giả Đỗ Nam Thắng chủ biên đã nghiên cứu công cụ kinh tế trong quản lý ô nhiễm môi trường, phân tích mối quan hệ kinh tế - môi trường: mô hình đầu vào và đầu ra; chi phí – lợi ích; hiệu quả của việc áp dụng các công cụ kinh tế [110].
Sách Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế của Nguyễn Thanh Lâm, đã phân tích các nguyên tắc của thị trường được sử dụng để điều hòa các xung đột giữa tăng trưởng kinh tế và BVMT. Công cụ kinh tế là điều kiện để các doanh nghiệp chủ động tuân thủ pháp luật BVMT thúc đẩy sản xuất sạch hơn. Đây là biện pháp đang được nhiều nước trên thế giới vận dụng và đã đem lại những kết quả khả quan [58]. Luận án tiến sĩ Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật môi trường Việt Nam của tác giả Võ Trung Tín đã nghiên cứu các vấn đề lý luận nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật môi trường Việt Nam, theo đó các chủ thể gây ra ô nhiễm môi trường phải chịu chi phí cho việc khắc phục, cải thiện môi trường bị ô nhiễm.
Trong trường hợp họ không thực hiện nghĩa vụ thì cần áp dụng các chế tài hành chính, hình sự [101]. Luận án tiến sĩ Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong BVMT ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Ngọc Anh Đào, phân tích cơ chế tác động của công cụ kinh tế tới chi phí của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng sẽ thay đổi hành vi của con người theo hướng có lợi cho môi trường. Các công cụ kinh tế được sử dụng gồm: chính sách tài trợ để quản lý và BVMT; các ưu đãi về thuế và phí [31]. Bài nghiên cứu Vai trò của pháp luật về quản lý môi trường và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý môi trường tại Việt Nam hiện nay của tác giả Lâm Văn Đoan đã phân tích các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật môi trường gồm: mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật, quá trình tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan QLNN về môi trường, sự tham gia của Hệ thống chính trị và ý thức của người dân [35].
10 Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích các công cụ QLNN về môi trường gồm: công cụ chính sách - pháp luật; công cụ kinh tế; công cụ kỹ thuật; vai trò cũng như cơ chế tác động của các công cụ trong quản lý môi trường. Ở nước ngoài, nghiên cứu những vấn đề lý luận quản lý môi trường, pháp luật môi trường làm cơ sở tiến hành quản nhà nước về môi trường có một số công trình đáng chú ý sau: Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) năm 1987, đã đề cập tới vấn đề PTBV, trong đó quan niệm: PTBV là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Nói cách khác, PTBV phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ [169]. Tiếp cận từ góc độ công lý môi trường, trong cuốn sách Unequal Protection: Environmental Justice and Communities of Color của tác giả Bullard, thông qua quá trình nghiên cứu vị trí đặt các cơ sở chất thải nguy hại liên quan đến các cộng đồng da màu và cộng đồng thu nhập thấp ở Hoa Kỳ tác giả đã đưa ra thuật ngữ công lý môi trường gồm công bằng thực chất, công bằng phân phối, nghĩa là tất cả mọi người không phân biệt mức thu nhập hoặc chủng tộc phải được bảo vệ như nhau khỏi tác động bất lợi của các chất ô nhiễm và các tác động môi trường bất lợi khác, và công bằng theo thủ tục có nghĩa là tất cả mọi người đều có cơ hội tham gia vào các quyết định về môi trường có ảnh hưởng đến họ [158].
Sách Environmental Protection and Human Rights của D. Shelton đã giới thiệu toàn diện về mối quan hệ giữa BVMT và quyền con người, được luật hoá trong nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia [157]. Sách Human Rights and Environmental Sustainability của tác giả K. Woods, xem xét các câu hỏi chính trong mối quan hệ giữa nhân quyền và môi trường.
Cuốn sách chủ yếu tập trung vào những thách thức lý thuyết, triết học và chính trị đối với các chuẩn mực nhân quyền và tính bền vững của môi trường [171]. 11 Luận án tiến sĩ The human right to a good environment in international law and the implications of climate change của Bridget Mary Lewis đại học Monash đã phân tích các ý nghĩa lý luận, pháp lý, thực tiễn và chính trị của quyền con người được sống trong một môi trường tốt.