CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khái niệm môi trường và quản lý môi trường * Khái niệm: Môi Trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật.
[2] Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: + Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người. + Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người, tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng loài người. + Môi trường nhân tạo: Là tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người. Môi trường theo nghĩa rộng là tổng các nhân tố như không khí, nước, đất, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, xã hội…Có ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống con người và các tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sinh sống và sản xuất của con người.
Môi trường theo nghĩa hẹp là các nhân tố như: Không khí, đất nước, ánh sáng….liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người, không xét tới tài nguyên. * Khái niệm về quản lý môi trường: “Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia”. [4] Theo Nguyễn Ngọc Nông (2006) [4]: Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới sự phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên. Quản lý môi trường được thực hiện được thực hiện hiện bằng tổng hợp các biện pháp: luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, văn hóa, giáo dục,… Các biện pháp này đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra.
Cơ sở triết học – xã hội 6 do an Sự phát triển mạnh mẽ liên tục của các cuộc cách mạng công nghiệp, cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng khoa học học và công nghệ với quá trình công nghiệp hóa trong thế kỷ vừa qua đã làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc bộ mặt của xã hội loài người và môi trường tự nhiên. Để có được các công cụ hiệu quả hơn trong quản lý môi trường chúng ta phải có cách nhìn bao quát sâu sắc và toàn diện mối quan hệ giữa con người xã hội và tự nhiên hiểu được bản chất diễn biến các mối quan hệ đó trong quá trình lịch sử. Ba nguyên lý để xét mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên đó đó là: [1] - Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn “Tự nhiên – Con người – Xã hội”, trong đó yếu tố con người giữ một vai trò quan trọng. - Sự phụ thuộc của mối quan hệ con người và tự nhiên và trình độ phát triển của xã hội.
Tự nhiên và xã hội có một quá trình lịch sử phát triển con người xuất hiện trong giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên. - Sự điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên: Sự phát triển của xã hội người ngày này đang hướng tới các mục tiêu cơ bản và sự phồn vinh về kinh tế, bình đẳng và công bằng về hưởng thụ vật chất và môi trường trong sạch, duy trì và phát triển các di sản văn hóa của nhân loại. Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành điều khiển có ý thức quan hệ giữa xã hội và tự nhiên. Cơ sở khoa học, kỹ thuật, công nghệ của quản lý môi trường Quản lý môi trường là việc thực hiện tổng hợp các biện pháp khoa học, kỹ thuật, kinh tế, luật pháp, xã hội nhằm bảo vệ môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế, xã hội.
Từ những năm 1960 đến nay nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đã được tổng kết và biên soạn thành các giáo trình, chuyên khảo, Trong đó, có nhiều tài liệu cơ sở, phương pháp luận nghiên cứu môi trường, các nguyên lý và quy luật môi trường. Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt động sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh, ngăn ngừa. Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường như kỹ thuật viễn thám, tin học,…. được phát triển ở nhiều nước trên thế giới.
7 do an Quản lý môi trường là cầu nối giữa khoa học môi trường với hệ thống “Tự nhiên – Con người - Xã hội” đã được phát triển trên nền phát triển của các bộ môn chuyên ngành. Cơ sở kinh tế của quản lý môi trường Quản lý môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất đều diễn ra với sức ép của sự trao đổi hàng hóa theo giá trị. Loại hàng hóa có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh hơn.
Trong khi đó loại hàng hóa kém chất lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng. Vì vậy chúng ta có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho công tác bảo vệ môi trường. Công cụ kinh tế tại rất đa dạng gồm các loại thuế, phí và lệ phí, cota ô nhiễm, quy chế đóng góp có bồi hoàn, trợ cấp kinh tế, nhãn sinh thái, hệ thống các tiêu chuẩn ISO. Một số ví dụ về phân tích kinh tế trong quản lý tài nguyên môi trường như lựa chọn sản lượng tối ưu cho hoạt động sản xuất có sinh ra ô nhiễm hoặc xác định mức khai thác hợp lý tài nguyên tái tạo.
Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường là các văn bản về luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực môi trường. Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia. Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, giữa csc quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phí. Từ hội nghị quốc tế về “Môi trường con người” tổ chức vào năm 1972 tại Thụy Điển và sau hội nghị thượng đỉnh Rio 92 có nhiều văn bản luật quốc tế đươc soạn thảo và ký kết.
+ Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hóa và tự nhiên. + Công ước về buôn bán các loại động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng. 8 do an + Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển (MARPOL). + Công ước của liên hợp quốc về biến đổi môi trường.
+ Công ước của Liên hợp quốc về luật biển + Công ước Viên về bảo vệ tầng ozon + Công ước về việc thông báo sớm có sự cố hạt nhân + Công ước chung của liên hợp quốc về sự biến đổi khí hậu. + Công ước về đa dạng sinh học. Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộ luật. Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt văn bản có liên quan đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường như: [3] - Quyết định số 02/2004 QĐ- BTNMT ngày 01/3/2004 của bộ tài nguyên môi trường về giải thưởng môi trường.
- Nghị định số 41/NQ- TW ngày 15/11/2004 của bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước - Luật số 52/2005 QH11 ngày 29/11/2005 của nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ môi trường (Luật bảo vệ môi trường). - Quyết định số 328/2005/QĐ - TTg ngày 12/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2011. - Nghị đinh số 80/2006 NĐ- CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết về hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường - Nghị định số 81/2006/NĐ- CP ngày 09/8/2006 của chính phủ về sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (Luật Bảo Vệ Môi Trường). - Thông tư số 08/2006/TT- BTNMT ngày 08/09/2006 của Bộ Tài nguyên môi trường về việc ban hành quy định và hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.
- Quyết định số 23/2006/QĐ –MTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài nguyên và môi trường về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại. - Nghị định 80/2006/NĐ - CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật bảo vệ môi trường 2005 - Thông tư số 08/2007/TT- BTNMT ngày 03/7/207 của bộ tài nguyên môi trường hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm cần xử lý. 9 do an - Nghị định số 117/2007/NĐ –CP ngày 11/7/2007 của chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch. - Nghị định số 81/2007 NĐ- CP ngày 23/05/2007 của chính phủ quy định tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường tại cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước.
- Nghị định số 88/2007/NĐ- CP ngày 25/8/2007 của chính phủ về thoát nước đô thị và khu công nghiệp. - Nghị định số 21/2008/ NĐ-CP ngày 28/02/2008 của chính phủ về sủa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006 NĐ- CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết về hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường - Thông tư số 08/2008 TT – BTC ngày 29/01/2008 của bộ tài chính sủa đổi và bổ sung thông tư số 108/2003 TT-BTC ngày 07/11/2003 hướng dẫn cơ chế tài chính áp dụng đối với các dự án xử lý rác thải sinh hoạt và chất thải rắn đô thị sử dụng nguồn hỗ trợ chính thức (ODA).