Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Mô hình tổ chức và quy định nhân lực y tế cơ sở tại Việt Nam 1. Khái niệm và vai trò của y tế cơ sở 1. Khái niệm y tế cơ sở Ở Việt Nam, hệ thống tổ chức y tế được chia thành 4 tuyến: Trung ương, tỉnh, huyện và xã.
Y tế cơ sở được xác định bao gồm Bệnh viện, Trung tâm y tế dự phòng, Phòng y tế [20]. Vai trò của y tế cơ sở Y tế cơ sở có vị trí chiến lược rất quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, bởi vì: Y tế cơ sở là đơn vị y tế gần dân nhất; giải quyết 80% khối lượng phục vụ y tế tại chỗ; là nơi thể hiện rõ nhất sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe; nơi trực tiếp thực hiện và kiểm nghiệm các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về y tế; là bộ phận quan trọng nhất của ngành y tế tham gia phát triển kinh tế và ổn định chính trị xã hội [20]. Mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ và định mức biên chế các đơn vị tuyến y tế cơ sở 1. Phòng Y tế Phòng Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trên địa bàn huyện, gồm: y tế dự phòng, khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, y dược học cổ truyền, thuốc phòng chữa bệnh cho người, mỹ phẩm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, an toàn vệ sinh thực phẩm, trang thiết bị y tế; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo phân cấp của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và uỷ quyền của Sở Y tế [4], [20].
Biên chế: Căn cứ vào đặc điểm, tình hình phát triển sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở địa phương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định biên chế để đáp ứng nhiệm vụ quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong tổng biên chế hành chính được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cho huyện [4]. Bệnh viện tuyến huyện Bệnh viện tuyến huyện (bệnh viện hạng III hoặc IV) là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của quận, huyện trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương [5] 4 Chức năng, nghiệm vụ: Khám bệnh, chữa bệnh; Đào tạo cán bộ; Nghiên cứu khoa học; Chỉ đạo tuyến; Phòng bệnh; Hợp tác quốc tế và quản lý kinh tế trong bệnh viện Định mức biên chế các cơ sở khám, chữa bệnh đa khoa đạt tiêu chuẩn hạng III, IV, cụ thể như sau [3]: Bảng 1.1: Định mức biên chế cơ sở khám, chữa bệnh tuyến huyện hạng III Làm việc theo giờ Đơn vị Làm việc theo ca hành chính Cơ sở khám, chữa bệnh đa khoa, hạng III 1,10 - 1,20 1,40 - 1,50 Cơ sở khám, chữa bệnh đa khoa hạng IV 1,00 - 1,10 1,30 - 1,40 (Đơn vị tính: người/ giường bệnh) Bảng 1.2: Tỷ lệ cơ cấu bộ phận, chuyên môn bệnh viện tuyến huyện [5]: TT Cơ cấu Tỷ lệ A Cơ cấu bộ phận 1 Lâm sàng 60 - 65% 2 Cận lâm sàng và Dược 22 - 15% 3 Quản lý, hành chính 18 - 20% B Cơ cấu chuyên môn 1 Bác sĩ/ chức danh chuyên môn y tế khác (Điều dưỡng, hộ 1/3 - 1/3,5 sinh, kỹ thuật viên) 2 Dược sĩ Đại học/Bác sĩ 1/8 - 1/1,5 3 Dược sĩ Đại học/Dược sĩ trung học 1/2 - 1/2,5 1. Trung tâm Y tế dự phòng Chức năng: Trung tâm Y tế dự phòng huyện có chức năng triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật về y tế dự phòng, phòng, chống HIV/AIDS, phòng, chống bệnh xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và truyền thông giáo dục sức khoẻ trên địa bàn huyện [6]. 5 Định mức biên chế đối với Trung tâm Y tế dự phòng quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh được tính theo dân số [3]: Bảng 1.3: Định mức biên chế đối với Trung tâm Y tế dự phòng huyện Định mức biên chế (người) theo dân số >100.4: Tỷ lệ cơ cấu bộ phận, chuyên môn [3]: TT Cơ cấu Tỷ lệ A Cơ cấu bộ phận 1 Chuyên môn 60 - 65% 2 Xét nghiệm 20% 3 Quản lý, hành chính 15 - 20% B Cơ cấu chuyên môn 1 Bác sĩ > 20 % 2 Kỹ thuật xét nghiệm > 10% 1.
Trạm Y tế xã/phường/thị trấn Nhiệm vụ: a) Lập kế hoạch các mặt hoạt động và lựa chọn chương trình ưu tiên về chuyên môn y tế trình Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn duyệt, báo cáo Trung tâm Y tế huyện, quận, thị xã và tổ chức triển khai thực hiện sau khi kế hoạch đã được phê duyệt. b) Phát hiện, báo cáo kịp thời các bệnh dịch lên tuyến trên và giúp chính quyền địa phương thực hiện các biện pháp về công tác vệ sinh phòng bệnh, phòng chống dịch, giữ vệ sinh những nơi công cộng và đường làng, xã; tuyên truyền ý thức bảo vệ sức khoẻ cho mọi đối tượng tại cộng đồng. c) Tuyên truyền vận động, triển khai thực hiện các biện pháp chuyên môn về bảo 6 vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình, bảo đảm việc quản lý thai, khám thai và đỡ đẻ thường cho sản phụ. d) Tổ chức sơ cứu ban đầu, khám, chữa bệnh thông thường cho nhân dân tại trạm y tế và mở rộng dần việc quản lý sức khoẻ tại hộ gia đình.
e) Tổ chức khám sức khoẻ và quản lý sức khoẻ cho các đối tượng trong khu vực mình phụ trách, tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự. f) Xây dựng vốn tủ thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn và hợp lý, có kế hoạch quản lý các nguồn thuốc. Xây dựng, phát triển thuốc nam, kết hợp ứng dụng y học dân tộc trong phòng và chữa bệnh. g) Quản lý các chỉ số sức khoẻ và tổng hợp báo cáo, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác lên tuyến trên theo quy định thuộc đơn vị mình phụ trách.
h) Bồi dưỡng kiến thức chuyên môn kỹ thuật cho cán bộ y tế thôn, làng, ấp, bản và nhân viên y tế cộng đồng. i) Tham mưu cho chính quyền xã, phường, thị trấn và Giám đốc Trung tâm y tế huyện chỉ đạo thực hiện các nội dung Chăm sóc sức khoẻ ban đầu và tổ chức thực hiện những nội dung chuyên môn thuộc các chương trình trọng điểm về y tế tại địa phương. j) Phát hiện, báo cáo Ủy ban Nhân dân xã và cơ quan y tế cấp trên các hành vi hoạt động y tế phạm pháp trên địa bàn để kịp thời ngăn chặn và xử lý. k) Kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể quần chúng, các ngành trong xã, để tuyên truyền và cùng tổ chức thực hiện các nội dung công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Định mức biên chế: Căn cứ vào nhiệm vụ và nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ nhân dân, định mức biên chế của Trạm y tế xã, phường, thị trấn được xác định theo đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội, quy mô dân số như sau: a) Biên chế tối thiểu: 5 biên chế cho 1 trạm y tế xã, phường, thị trấn. b) Đối với xã miền núi, hải đảo trên 5.000 dân thì tăng thêm 01 biên chế cho trạm; tối đa không quá 10 biên chế/1 trạm. c) Đối với xã đồng bằng, trung du trên 6.000 dân thì tăng thêm 01 biên chế cho trạm; tối đa không quá 10 biên chế/ 1 trạm. d) Đối với trạm y tế phường, thị trấn trên 8.000 dân thì 7 tăng thêm 01 biên chế cho trạm: tối đa không quá 10 biên chế/ 1 trạm.
e) Các phường, thị trấn và những xã có các cơ sở khám chữa bệnh đóng trên địa bàn: Bố trí tối đa 5 biên chế [3]. Nguồn nhân lực y tế 1. Khái niệm về nhân lực y tế Theo WHO (2006), nhân viên y tế là tất cả những người tham gia vào những hoạt động mà mục đích là nhằm nâng cao sức khỏe của người dân. Nói chính xác, theo nghĩa này thì người mẹ chăm sóc con ốm và những người tình nguyện trong lĩnh vực y tế cũng bao gồm trong nguồn nhân lực y tế.
Họ góp phần quan trọng và quyết định việc thực hiện chức năng của hầu hết các hệ thống y tế. Tuy nhiên, dữ liệu có thể về số nhân viên y tế chủ yếu giới hạn trong những người tham gia vào các hoạt động được trả lương [45]. Tuy nhiên, việc xếp loại nhân viên được trả lương cũng không phải đơn giản. Một số người trong các bệnh viện mà công việc của họ không trực tiếp nâng cao sức khỏe (người quản lý, nhân viên kế toán, lái xe, nhân viên vệ sinh.
Mặt khác, những bác sỹ làm việc trong những công ty có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho công nhân, nhưng công ty đó không hoạt động nâng cao sức khỏe. Vì những lý do đó, nguồn lực y tế được xem là bao gồm những người hưởng lương trong những cơ quan/tổ chức có mục đích chính là nâng cao sức khỏe cũng như những người mà công việc của họ cũng là nâng cao sức khỏe nhưng làm việc trong những cơ quan, tổ chức khác. Cụ thể hơn, WHO định nghĩa nhân viên y tế là những người mà hoạt động của họ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe. Nhân viên y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sỹ, điều dưỡng, dược sỹ, kỹ thuật viên và những người quản lý và nhân viên khác: nhân viên kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý [45].
Đặc thù của nhân lực y tế Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23/02/2005, của Bộ Chính trị đã nêu rõ nguyên tắc chỉ đạo nguồn nhân lực y tế, cụ thể là “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. ” [1], Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Lương y như từ mẫu”. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng phát biểu về đặc trưng của nghề y [24]: “Ít có nghề nghiệp nào mà xã hội đòi hỏi về phẩm chất và tài năng cao như đối với người làm công tác y tế. Đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi hiểu biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, sự từng trải và kinh nghiệm, một nghề mà mọi công việc dù là nhỏ, đều có liên 8 quan đến tính mạng con người và hạnh phúc gia đình.
Nghề y là một nghề cao quý, được xã hội tôn trọng trước hết bởi vì có nhiệm vụ chữa bệnh cứu người, bảo vệ sự sống và nâng cao sức khỏe của nhân dân.