CHƯƠNG 1 TỒNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm ưong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động [17].
Nguồn nhân lực Khái niệm về NNL được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỉ thứ XX, cho đến nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về NNL tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận về NNL: Theo Trần Xuân cầu và cộng sự, NNL là nguồn lực con người. Nguồn lực con người được xem xét ở 2 khía cạnh: (1) Với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực: NNL nằm ngay trong bản thân con người. NNL được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người; (2) Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển: NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định [17]. Theo Đồng Thị Thanh Phương và Nguyễn Thị Ngọc An, NNL là tất cả các thành viên đang tham gia hoạt động cho tổ chức.
Tồ chức đó là một tập hợp gồm hai người ưở lên, cùng hợp tác với nhau để thực hiện những mục tiêu chung nằo đó [30]. Nguồn nhân lực trong y tế Năm 2006, theo WHO: “NLYT bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”. Theo đó, NLYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cà nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Nó bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe gia đình, 5 lương y.); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và ưong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp) [43], Ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “Nhân lực y tế” bao gồm các cán bộ, NVYT thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (NLYT tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vườn) [12].
Quăn lý nguồn nhân lực Quản lý NNL là quản lý tài sản lớn nhất của một tổ chức đó là con người, không có NNL tốt, tổ chức sẽ không thực hiện được các chiến lược một cách hiệu quả và không đạt được các mục tiêu đề ra. Các nhà quản lý cần hiểu và thực hiện quản lý NNL để ngăn ngừa các vấn đề sau: Thuê không đúng nhân viên, thuê nhân viên làm không đúng việc, số lượng nhân viên nhiều, nhân viên làm không hết năng lực, nhân viên nghĩ họ không được trả lương công bàng.Nếu quản lý tốt NNL, tổ chức sẽ có nhân viên được đào tạo giỏi, có kỹ năng, có kiến thức và nhiệt tình. Họ sẽ làm hết khả năng của mình, NNL như vậy giúp tổ chức có lợi thế cạnh tranh hơn. - Quản lý NNL đóng vai trò chiến lược trong phát triển chung của tổ chức, doanh nghiệp.
- Phong cách quản lý NNL có ảnh hưởng sâu sắc đến bầu không khí của tổ chức, đến tâm lý nhân viên. I - Quản lý NNL có sự liên quan đến tất cả các bộ phận khác ữong tổ chức [23]. Theo quan niệm hiện nay, quản lý NNL được hiểu rộng hơn, bao gồm cả nhiệm vụ phát triển NNL. Khái niệm Phát triển NNL là một quá trình phát triển và nâng cao chuyên môn của con người thông qua phát triển tổ chức và đào tạo phát ưiển nhân sự nhằm mục đích nâng cao kỹ năng thực hiện chuyên môn [24].
Tính chất đặc thù của nhân lực y tế Nghị quyết số 46/NQ-TW, ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị đã nêu rõ “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Để đổi mới quản lý nhà nước về nguồn NLYT, cần có nhận thức đúng về tính đặc thù của nguồn NLYT, bao gồm : NLYT có đặc thù riêng: Nghề y là một nghề cao quý, được xã hội tôn vinh bởi vì nghề có nhiệm vụ chữa bệnh cứu người, bảo vệ sự sống và nâng cao sức khỏe của nhân dân. Nghề đòi hỏi phải có lòng nhân ái, dám chịu đựng vất vả, hy sinh để cứu người, tôn trọng nhân phẩm và quyền lợi bệnh nhân, thực hiện các quy tắc ứng xử có trách nhiệm và không phân biệt đối xử. Hoạt động của ngành y tế liên quan trực tiếp đến sức khỏe nhân dân, tính mạng người bệnh và đòi hỏi nhiều lao động.
Trong cung ứng mỗi dịch vụ y tế, cần ít nhất có sự tiếp xúc riêng trực tiếp giữa NVYT và người bệnh, vì vậy, cung ứng các dịch vụ y tế đến người bệnh về bản chất đòi hỏi sử dụng nhiều lao động y tế. Giáo dục và đào tạo NLYT cần sự đầu tư lớn, sự phối hợp chặt chẽ và có kế hoạch: việc đào tạo CBYT, đặc biệt là đội ngũ bác sỹ, cần một khoảng thời gian dài với sự kiểm ưa giám sát chặt chẽ và tốn kém. Để giải quyết tốt vấn đề này đòi hỏi sự hợp tác, phối hợp và xây dựng kế hoạch lâu dài trong cùng ngành và giữa hai ngành giáo dục và y tế. Lợi thế của thị trường không phù hợp với bản chất của lĩnh vực y tế: nguyên nhân là do sự mất cân xứng ưong kiến thức và thông tin giữa người cung ứng dịch vụ và người bệnh (người bệnh không đủ kiến thức và thông tin để đánh giá và lựa chọn dịch vụ y tế có chất lượng), điều này cũng tạo ra tính độc quyền ưong y tế, tính cạnh tranh yếu giữa các cơ sở và người cung cấp dịch vụ y tế.
Rủi ro và sự không chắc chắn: các can thiệp y tể luôn chứa đựng nhiều rủi ro và sự không chắc chắn ưong việc lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất cho từng bệnh nhân, cũng như phản ứng của từng bệnh nhân đối với từng phương pháp điều trị khác nhau. Đặc điểm phức tạp của nguồn NLYT cần có sự can thiệp, quan tâm của Chính phủ trong việc lập kế hoạch và điều phối nguồn NLYT nhiều hơn là đối với NNL ở các ngành khác. Vai trò của nhà lãnh đạo trong quản lý nguồn nhân lực y tế Quản lý nguồn NLYT là quản lý một tài sản lớn nhất - đó là con người. Không có NNL tốt, các cơ sở y tế sẽ không thực hiện được các chiến lược một cách hiệu quả và không đạt được mục tiêu đề ra.
Nếu nhà lãnh đạo biết cách quản lý tot NNL, thì các cơ sở y tế có được các nhân viên được đào tạo giỏi, có kỹ năng nghề nghiệp, có kiến thức và sự nhiệt tình trong công việc, khuyến khích được các NVYT làm việc hết khả năng của mình. Từ đó, tạo được thế mạnh và uy tín cao cho các cơ sở y tế đối với nhân dân. Phong cách quản lý nguồn NLYT có ảnh hưởng sâu sắc đến bầu không khí làm việc và tâm lý nhân viên y tế. Động viên khuyến khích kịp thời là động lực giúp NVYT làm việc hăng say, phát huy hết khả năng làm việc, tạo ra được bầu không khí lan truyền tốt trong nội bộ NVYT.
Các nhà lãnh đạo cần hiểu được nhân viên, tìm ra ngôn ngữ chung và nhạy cảm hơn với nhu cầu của NVYT, biết đánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc tránh được sai lầm trong tuyển chọn, sử dụng nhân viên, phối hợp thực hiện mục tiêu của cơ sở y tế và mục tiêu của cá nhân NVYT. Bên cạnh đó, người lãnh đạo phải thực sự hiểu biết về công việc của nhân viên, quan tâm thực sự đến tâm tư tình cảm của họ để động viên, khuyến khích đúng lúc, làm tăng hiệu quà lao động. Quản lý nhân lực tại bệnh viện Nhân lực bệnh viện bao gồm các NVYT làm việc trong bệnh viện. Quản lý nhân lực bệnh viện là thực hiện các khâu hoạch định, tuyển dụng nhân lực ưong bệnh viện theo tiêu chuẩn và nội dung công việc, sắp xếp và giao nhiệm vụ cho 'từng nhân viên, theo dõi, kiểm tra, đánh giá hiệu quả công việc của họ, đảm bảo bệnh viện thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình.
Tăng cường đào tạo và phát triển nhân lực đáp ứng với nhu cầu phát triển ngày càng cao của bệnh viện, đồng thời phải thực hiện tốt những yêu cầu của người lao động theo đúng chế độ, chính sách của Nhà nước [1]. Lý thuyết nghiên cứu nguồn nhân lực y tế và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực Mô hình quản lý NNL tại các cơ sở y tế Việt Nam được phát ưiển trên cơ sở điều chỉnh mô hình quản lý nhân lực chung của cả nước. Mô hình NNL [24] có 3 nhóm chức năng: thu hút, đào tạo- phát triển và duy trì NNL. Mô hình nhấn mạnh 3 nhóm hoạt động chức năng có quan hệ qua lại, không phải là quan hệ chỉ huy.
Mỗi một nhóm chức năng của NNL đều có mối quan hệ chặt chẽ và trực tiếp ảnh hưởng đến 2 nhóm chức năng còn lại, tạo thành thế chân kiềng khép kín, phục vụ cho mục tiêu của quản lý NNL. Thu hút nguồn nhân lực Nội dung này chú trọng việc đảm bảo số lượng nhân viên với các phẩm chất phù hợp cho công việc của tổ chức. Để có thể tuyển được đúng người, đúng việc trước hết tổ chức đó phải căn cứ vào kế hoạch hoạt động của mình và thực trạng sử dụng NNL, xác định những bộ phận nào cần tuyển thêm nhân lực. Thực hiện phân tích công việc cho biết tổ chức cần tuyển thêm bao nhiêu nhân viên và yêu cầu tiêu chuẩn đặt ra đối với các ứng viên là như thế nào? Việc áp dụng các kỹ năng tuyển dụng như trắc nghiệm và phỏng vấn giúp tổ chức chọn được ứng viên tốt nhất cho công việc.
Trong chức năng này gồm các công việc cụ thể sau [24]: - Hoạch định NNL: so sánh NNL hiện có của cơ sở y tế với biên chế được tính theo định mức hướng dẫn.