Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Nhân học (mã số 9 31 03 02) của nghiên cứu sinh Ngô Thị Phương Thảo, thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thị Song Hà tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2023), mang tiêu đề: "Thực trạng hôn nhân của người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng".

Về tính cấp thiết, văn bản chỉ rõ hôn nhân là thành tố đầu tiên hình thành nên gia đình, thực hiện chức năng duy trì nòi giống, gắn kết dòng họ và phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan tộc người. Tại tỉnh Cao Bằng – địa bàn miền núi biên giới Đông Bắc có hơn 333 km đường biên tiếp giáp Trung Quốc với 28 dân tộc cùng cư trú – người Dao Đỏ tập trung chủ yếu ở hai huyện Nguyên Bình và Hà Quảng. Nhóm dân cư này vẫn bảo lưu nhiều nét văn hóa truyền thống qua các nghi lễ gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, trước tác động của kinh tế thị trường, đô thị hóa, hội nhập quốc tế, chính sách phát triển vùng biên và công nghệ số, đời sống hôn nhân của người Dao Đỏ nảy sinh nhiều biến chuyển đan xen giữa các yếu tố tích cực và tiêu cực. Việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình, công tác kế hoạch hóa gia đình còn bị chi phối bởi tập quán; tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết và quan hệ hôn nhân xuyên biên giới đặt ra nhiều vấn đề thực tiễn. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là sự thiếu vắng các công trình nhân học chuyên sâu, tiếp cận có hệ thống về thực trạng hôn nhân của nhóm Dao Đỏ tại vùng biên giới Cao Bằng trong bối cảnh đương đại.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Làm rõ thực trạng hôn nhân của người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng và sự biến đổi hôn nhân của nhóm Dao này tại địa bàn khảo sát.
  2. Xác định các yếu tố tác động đến sự biến đổi hôn nhân, từ đó dự báo xu hướng biến đổi trong tương lai.
  3. Đề xuất hệ thống khuyến nghị, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa hôn nhân của người Dao Đỏ gắn với việc thực hiện luật pháp và chính sách phát triển xã hội.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 6 nội dung:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến văn hóa hôn nhân người Dao Đỏ để chỉ ra khoảng trống tri thức.
  2. Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các khái niệm cơ bản và lý thuyết nghiên cứu làm khung phân tích.
  3. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và lịch sử tộc người tại địa bàn nghiên cứu.
  4. Phân tích, đánh giá các quan niệm, nguyên tắc, phong tục, tập quán và nghi lễ hôn nhân hiện nay của người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng; nhận diện các giá trị cần bảo tồn và các yếu tố không còn phù hợp.
  5. Phân tích các yếu tố tác động và dự báo các xu hướng biến đổi hôn nhân trong bối cảnh đổi mới và giao lưu xuyên biên giới.
  6. Xác định những vấn đề đang đặt ra, đề xuất giải pháp nhằm cụ thể hóa Luật Hôn nhân và Gia đình, chính sách dân tộc và phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới.

Đối tượng nghiên cứu là thực trạng hôn nhân của người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Về nội dung: Tập trung vào quan niệm hôn nhân, tuổi kết hôn, nguyên tắc, hình thức kết hôn, tập quán cư trú, các nghi lễ trước, trong và sau đám cưới, những biến đổi so với truyền thống, yếu tố tác động và các vấn đề đặt ra.
  • Về không gian: Địa bàn huyện Nguyên Bình và huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Khảo sát cụ thể tại xã Vũ Minh (các xóm Lũng Pán, Lũng Vài, Lũng Chang, Lũng Ỉn) thuộc huyện Nguyên Bình; xã Cần Nông (các xóm Tềnh Quốc, Lũng Quẩy, Phác Lùng, Phiêng Pán) và xã Lương Thông (xóm Lũng Tỳ) thuộc huyện Hà Quảng. Văn bản lưu ý sự thay đổi địa giới theo Nghị quyết số 864/NQ-UBTVQH14 năm 2020: sáp nhập huyện Thông Nông vào huyện Hà Quảng; sáp nhập xã Thái Học, Phan Thanh, Minh Thanh, Bắc Hợp để thành lập xã Vũ Minh.
  • Về thời gian: Tập trung nghiên cứu thực trạng trong 7 năm (2015 - 2022). Đồng thời, tác giả hồi cố dữ liệu từ công cuộc Đổi mới (1986) và mốc bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc (1992) nhằm đối sánh tiến trình biến đổi.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các hướng nghiên cứu trước đây theo ba nhóm tài liệu:

Nhóm công trình kinh điển về hôn nhân và gia đình:

  • Cuốn Mẫu quyền (1861) của J. J. Bachofen đề cập đến hình thái mẫu hệ và tình trạng quần hôn trong xã hội loài người thời sơ khai.
  • Cuốn Nghiên cứu lịch sử cổ đại - hôn nhân nguyên thủy (1866) của J. F. McLennan nhấn mạnh nguyên tắc ngoại hôn tộc người.
  • Cuốn Xã hội cổ đại (1882) của L. H. Morgan hệ thống hóa các hình thái gia đình (huyết tộc, punalua, đối ngẫu, phụ quyền, một vợ một chồng) và các hình thái hôn nhân (tập thể, quần hôn, đối ngẫu, cá thể).
  • Cuốn Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước (1884) của F. Engels phân tích sự tiến hóa của hôn nhân gắn với ba thời đại: mông muội (quần hôn), dã man (hôn nhân cặp đôi), văn minh (một vợ một chồng).
  • Cuốn Bức khảm văn hóa châu Á của Grant Evans luận giải mô hình gia đình hạt nhân và chỉ ra hình thái, chức năng gia đình do tiêu chí, giá trị văn hóa từng xã hội quy định chứ không thuần túy dựa trên sinh học.

Nhóm công trình của học giả nước ngoài về tộc người Dao:

  • Các sĩ quan, học giả người Pháp đầu thế kỷ XX: Auguste Bonifacy với các khảo cứu giai đoạn 1901-1908 về người Mán Quần Cộc, Mán Quần Trắng, Mán Cao Lan; H. Le Breton với La Province de Thanh - Hoa; Maurice Abadie (1924) với Les Races Haut-Tonkin de Phong-Tho and Lang-Son ghi chép nghi lễ cưới của người Dao Quần Trắng và Dao Họ; Jacques Lemoine với The Yao ceremonial paintings (1985) và bài viết về di sản văn hóa Dao, chỉ ra ảnh hưởng của Đạo giáo và sự phân chia hai nhóm phương ngữ Kìm Miền và Kìm Mùn.
  • Học giả Xô Viết: A. I. Mukhlinov với công trình Chủng tộc, Dân tộc, Văn hóa (1971) ghi nhận đặc điểm nhân chủng và một số tập quán của các nhóm Dao Đỏ, Dao Thanh Y, Dao Quần Trắng.
  • Học giả Trung Quốc: Trương Hữu Tuấn (1998) với tham luận về các đợt di cư của người Dao sang Việt Nam; Ngọc Thời Giai (2008) phân tích quá trình thiên di của người Dao xuống biên giới Tây Nam Trung Quốc và Đông Nam Á thời Minh, Thanh.

Nhóm nghiên cứu của các tác giả trong nước:

  • Thư tịch cổ: Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, Quốc sử quán triều Nguyễn trong Đại Nam nhất thống chí, Hoàng Bình Chính (1778) trong Hưng hóa xứ phong thổ lục, Phạm Thận Duật (1856) trong Hưng hóa ký lược ghi chép sơ lược về địa bàn cư trú, tên gọi và trang phục người Dao.
  • Giai đoạn sau năm 1954: Lã Văn Lô và cs (1959); Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (1971) với chuyên khảo Người Dao ở Việt Nam; Viện Dân tộc học trong bộ sách Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc); Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu (1997); Nguyễn Quang Vinh (1999) về người Dao Quảng Ninh; Đỗ Đức Lợi và cs (2002) về chu kỳ đời người nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao; Đào Thị Vinh (2001) về người Dao Thanh Hóa; Nịnh Văn Độ và cs (2003) tại Tuyên Quang; Lý Dương Liễu và cs (2004) tại Lạng Sơn; Nguyễn Khắc Tụng và Nguyễn Anh Cường (2004) về trang phục; Đỗ Quang Trụ và Nguyễn Liễn (2005); NXB Thông Tấn (2008); Vương Xuân Tình, Trần Hồng Hạnh (2012) về văn hóa vùng Đông Bắc; Phan Thị Phượng (2013); Bùi Chí Thanh (2014); Nguyễn Ngọc Thanh (1998, 2014); Chu Quang Cường (2015).
  • Các công trình chuyên sâu về hôn nhân và nghi lễ liên quan: Trần Hữu Sơn (2001) nghiên cứu lễ cưới người Dao Tuyển; Lý Hành Sơn (2003) nghiên cứu nghi lễ chu kỳ đời người và chuyên khảo về người Dao Tiền; Đặng Thị Hoa (chủ biên, 2016) với công trình Hôn nhân xuyên biên giới với phát triển xã hội; Nguyễn Thị Song Hà (chủ biên, 2021) về biến đổi văn hóa các dân tộc thiểu số từ Đổi mới đến nay; các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (2015) về người Dao Thanh Y và Bàn Quỳnh Giao (2017) về dân ca đám cưới người Dao Tuyển.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Phần lớn các tài liệu trước đây chỉ khảo tả nghi lễ truyền thống, tiếp cận diện rộng trên phạm vi cả nước hoặc tập trung vào các nhóm Dao Tiền, Dao Họ, Dao Tuyển, Dao Thanh Y. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, độc lập dưới góc độ Nhân học về thực trạng hôn nhân của người Dao Đỏ tại tỉnh biên giới Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay, làm rõ các biến đổi nghi lễ, hiện tượng hôn nhân xuyên biên giới và việc thi hành các quy định pháp luật tại cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận, tác giả dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Hiện tượng hôn nhân của người Dao Đỏ được nhìn nhận trong tính chỉnh thể, đặt trong mối liên hệ với văn hóa các dân tộc cộng cư (Tày, Nùng, Hmông) và bối cảnh lịch sử - xã hội cụ thể. Nghiên cứu quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, văn hóa, Luật Hôn nhân và Gia đình, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới. Khung lý thuyết được vận dụng bao gồm lý thuyết biến đổi văn hóa, lý thuyết tiếp biến văn hóa và lý thuyết chức năng - cấu trúc trong nhân học.

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, luận án sử dụng hệ thống thao tác liên ngành khoa học xã hội kết hợp các kỹ thuật chuyên ngành Nhân học:

Phương pháp / Kỹ thuật Quy mô, công cụ và đối tượng áp dụng trong luận án
Phân tích tài liệu có sẵn Khảo cứu văn bản pháp quy, nghị quyết, báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của tỉnh Cao Bằng, huyện Nguyên Bình, huyện Hà Quảng; dữ liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê; báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh.
Quan sát tham dự Trực tiếp tham dự, ghi chép và chụp ảnh tại 03 đám cưới thực tế của người Dao Đỏ: (1) đám cưới Đặng Thị L và Đặng Văn S tại xóm Lũng Ỉn, xã Vũ Minh (2021); (2) đám cưới Triệu Thị M và Triệu Văn K tại xóm Tềnh Quốc, xã Cần Nông (2021); (3) đám cưới Lý Thị P và Bàn Văn N tại xóm Lũng Chang, xã Vũ Minh (tháng 11/2022).
Phỏng vấn sâu Thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp và qua điện thoại (thời kỳ dịch bệnh Covid-19 2020-2021), thời lượng 40 phút đến 2 giờ: 20 cuộc tại xã Cần Nông và Lương Thông (Hà Quảng); 10 cuộc tại xã Vũ Minh và Phan Thanh (Nguyên Bình). Đối tượng gồm thầy cúng, người già có uy tín, các cặp vợ chồng trẻ, gia đình tổ chức cưới, trưởng thôn, cán bộ tư pháp và bộ đội biên phòng.
Thảo luận nhóm Tổ chức gần 20 cuộc thảo luận nhóm (quy mô từ 3 đến 10 người/cuộc) từ năm 2017 đến 2022 với các nhóm đối tượng: nam giới, nữ giới, thanh niên, người cao tuổi, thầy cúng, cán bộ thôn xã.
Khảo sát phiếu hỏi Thiết kế bảng hỏi cấu trúc, phát và thu về 300 phiếu hợp lệ tại các hộ gia đình người Dao Đỏ (150 phiếu tại huyện Hà Quảng và 150 phiếu tại huyện Nguyên Bình).
Phương pháp chuyên gia Phỏng vấn, trao đổi học thuật với các nhà nghiên cứu Nhân học, Văn hóa học, chuyên gia người Dao và cán bộ văn hóa địa phương tại Cao Bằng.
Phương pháp so sánh So sánh lịch đại (đối chiếu hôn nhân hiện nay với truyền thống trước 1986) và so sánh đồng đại (đối chiếu người Dao Đỏ với nhóm Dao Tiền và các tộc người cộng cư).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, khái quát về địa bàn và tộc người nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, xác lập các khái niệm công cụ và làm rõ khung lý thuyết biến đổi văn hóa. Phần khái quát địa bàn cung cấp các chỉ số tự nhiên, dân cư và kinh tế - xã hội:

  • Tỉnh Cao Bằng có diện tích 6.703,42 km2, đường biên giới tiếp giáp Quảng Tây (Trung Quốc) dài 311 km; rừng chiếm trên 90% diện tích tự nhiên; dân số theo tổng điều tra năm 2019 là 530.341 người, trong đó dân tộc Tày chiếm 40,83%, Nùng chiếm 29,81%, Hmông chiếm 11,65%, Dao có 54.908 người (chiếm 1,49% [số liệu theo báo cáo tổng điều tra nêu trong văn bản]), Kinh chiếm 5,12%, Lô Lô chiếm 0,54%.
  • Người Dao Đỏ tại Cao Bằng có nguồn gốc di cư từ Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) sang Việt Nam từ thời nhà Minh (thế kỷ XIV - XVIII) qua đường thủy và đường bộ, tự nhận là Kiềm Miền (người rừng núi).
  • Huyện Nguyên Bình có diện tích 83,915 km2, rừng chiếm 95% (có khu bảo tồn Phja Oắc - Phja Đén). Dân số gồm 9 dân tộc, trong đó người Dao chiếm tỷ lệ lớn nhất (57,26%), Tày chiếm 23,96%, Nùng chiếm 7,91%. Riêng xã Vũ Minh thành lập năm 2020 có diện tích 52,72 km2, dân số 3.789 người (năm 2021), trong đó người Dao chiếm 71,6% và 100% thuộc nhóm Dao Đỏ.
  • Huyện Hà Quảng sau khi sáp nhập huyện Thông Nông có diện tích 810,96 km2, dân số 59.467 người (2021), gồm 5 dân tộc chính (Nùng, Tày, Hmông, Dao, Kinh) với 8 xã biên giới tiếp giáp huyện Nà Po và Tịnh Tây (Trung Quốc). Người Dao Đỏ cư trú tập trung tại xã Cần Nông (người Dao, Nùng, Hmông; tỷ lệ nghèo 73,2% năm 2021) và xã Lương Thông (người Dao Đỏ chiếm 57,66%).

Chương 2: Một số quan niệm, nguyên tắc và hình thức hôn nhân của người Dao Đỏ

Chương này phân tích các quy chuẩn xã hội và thực trạng kết hôn của người Dao Đỏ qua số liệu khảo sát thực địa:

  • Quan niệm và tuổi kết hôn: Người Dao Đỏ coi hôn nhân là sự kiện trọng đại để duy trì dòng tộc và gắn kết hai họ. Tuổi kết hôn có xu hướng tăng dần theo quy định pháp luật nhưng tình trạng lấy vợ, lấy chồng sớm vẫn tồn tại (Bảng 1).
  • Nguyên tắc và hình thức: Duy trì nguyên tắc ngoại hôn dòng họ tuyệt đối (người cùng họ, chung bàn thờ Bàn Vương không được lấy nhau). Nguyên tắc nội hôn tộc người từng giữ vị trí độc tôn nay đã chuyển biến. Hình thức phổ biến là hôn nhân một vợ một chồng; tồn tại tập quán ở rể (ở rể đời đời hoặc ở rể có thời hạn khi nhà gái neo người).
  • Tảo hôn và hôn nhân cận huyết: Dựa trên số liệu thống kê (Bảng 2, 3, 4 và Biểu đồ 1), tỷ lệ tảo hôn của người Dao năm 2015 và 2019 vẫn ở mức đáng lưu ý so với các tộc người cộng cư, bắt nguồn từ nhu cầu bổ sung lao động nông nghiệp và thói quen dựng vợ gả chồng sớm. Hôn nhân cận huyết thống (trong phạm vi 3 đời) hầu như không xảy ra do rào cản luân lý tộc người nghiêm ngặt.
  • Cư trú sau kết hôn: Số liệu Bảng 5 cho thấy hình thức cư trú bên chồng (phụ cư) chiếm đa số, bên cạnh một tỷ lệ nhỏ cư trú bên vợ (ở rể) hoặc làm nhà ở riêng.
  • Thực hiện pháp luật và hôn nhân đặc thù: Tỷ lệ đăng ký kết hôn đúng hạn tăng lên nhưng vẫn còn tình trạng tổ chức đám cưới truyền thống trước rồi mới đăng ký khi làm giấy khai sinh cho con; ly hôn diễn ra ít do dư luận cộng đồng ràng buộc chặt chẽ. Xu hướng kết hôn khác tộc người gia tăng (Bảng 6 ghi nhận số liệu kết hôn với người Tày, Nùng, Hmông tại Nguyên Bình và Hà Quảng giai đoạn 2018 - 2020). Luận án thống kê số liệu người Dao Đỏ kết hôn với người đồng tộc bên kia biên giới Trung Quốc tại các xã khảo sát (Bảng 7), phản ánh mối quan hệ thân tộc xuyên biên giới lâu đời.

Chương 3: Phong tục, tập quán và nghi lễ hôn nhân

Chương 3 khảo tả chi tiết các bước thực hành nghi lễ hôn nhân theo phong tục truyền thống:

  • Tập quán tìm hiểu và tiêu chí lựa chọn: Thanh niên nam nữ tự do tìm hiểu qua các dịp lễ hội, chợ phiên, hát giao duyên (Páo dung). Số liệu Bảng 8 và Bảng 9 phản ánh thời gian tìm hiểu và hoàn cảnh của các cặp đôi trước hôn nhân. Biểu đồ 2 phản ánh tiêu chí chọn bạn đời: coi trọng tính cần cù, đạo đức, sức khỏe hơn điều kiện kinh tế thuần túy.
  • Các nghi lễ trước đám cưới:
    1. Lễ xin lá số tử vi (mình cho nìn keng): Nhà trai nhờ thầy cúng so tuổi, đối chiếu can chi, bản mệnh đôi nam nữ xem có hợp nhau hay không.
    2. Lễ thỏa thuận giữa hai gia đình (mình kong xìn chà cao): Thống nhất việc thách cưới và các vật phẩm lễ nghi.
    3. Lễ ăn hỏi và trao vật làm tin (mình quý-ế lẩy): Nhà trai mang lễ vật chính thức sang nhà gái để xác nhận hôn ước.
    4. Lễ chọn và báo ngày cưới: Thầy cúng định ngày lành tháng tốt, giờ đón dâu.
  • Các nghi lễ trong đám cưới: Điểm đặc thù của người Dao Đỏ là lễ cưới chính không tổ chức tại nhà gái; họ hàng nhà gái đưa cô dâu sang nhà trai cử hành hôn lễ. Đám cưới diễn ra qua lễ cúng tổ tiên, lễ cưới bên nhà gái, lễ cưới bên nhà trai với việc tuân thủ nghiêm ngặt "giờ tốt". Tiệc cưới truyền thống gồm 4 bữa; khi tiễn đoàn nhà gái, nhà trai có tục chia phần thịt lợn và rượu biếu mang về cho từng người; những người thân ruột thịt và thầy cúng, đội kèn được phân chia các phần thịt riêng biệt.
  • Nghi lễ sau đám cưới: Lễ lại mặt (duốn tả kèng tiu) sau vài ngày cưới để cô dâu chú rể về thăm nhà bố mẹ đẻ; lễ quy tụ hôn nhân; các nghi thức xử lý đối với trường hợp hôn nhân đặc biệt (như cưới chạy tang, gả con trừ nợ trước đây hoặc kết hôn không qua dạm hỏi đầy đủ).

Chương 4: Những yếu tố tác động đến biến đổi hôn nhân, xu hướng biến đổi, giá trị và một số vấn đề đặt ra

Chương 4 tập trung giải thích nguyên nhân biến đổi, xác định các giá trị và đề xuất giải pháp:

  • Sáu nhóm yếu tố tác động: (1) Chính sách Đổi mới và chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước; (2) Sự phát triển kinh tế - xã hội, đường giao thông, mạng lưới điện nông thôn; (3) Luật Hôn nhân và Gia đình, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới; (4) Quá trình hội nhập, giao lưu và tiếp biến văn hóa với các dân tộc láng giềng; (5) Hệ thống truyền thông, mạng xã hội và công tác tuyên truyền của cấp ủy, chính quyền; (6) Sự chuyển biến trong nhận thức của các thế hệ người Dao Đỏ.
  • Bốn giá trị văn hóa tiêu biểu: Giá trị bảo tồn bản sắc tộc người (thể hiện qua trang phục cô dâu, tiếng nói, chữ Nôm Dao); giá trị giáo dục đạo đức và tính nhân văn; giá trị bảo tồn tín ngưỡng truyền thống (thờ cúng Bàn Vương và tổ tiên dòng họ); giá trị duy trì sự gắn kết cộng đồng làng bản qua sự tương trợ ngày cưới.
  • Năm xu hướng biến đổi chính:
    1. Xu hướng tiếp nhận các yếu tố văn hóa cưới xin của người Kinh, Tày (thuê trang phục cưới hiện đại, chụp ảnh cưới, dùng nhạc số).
    2. Xu hướng giản tiện trong thực hành nghi lễ: rút ngắn thời gian tổ chức, giảm bớt số lượng mâm cỗ và lễ vật thách cưới rườm rà.
    3. Xu hướng gia tăng kết hôn khác tộc người và ngoài địa phương cư trú truyền thống.
    4. Xu hướng kết hôn xuyên biên giới với cư dân bên kia biên giới Việt - Trung tiếp tục diễn biến phức tạp.
    5. Xu hướng phục hồi, giữ gìn có chọn lọc các nghi thức, giá trị tiêu biểu của hôn nhân truyền thống.
  • Vấn đề đặt ra và giải pháp: Tồn tại tình trạng kết hôn không làm thủ tục đăng ký pháp lý tại UBND xã; hiện tượng tảo hôn cục bộ; phụ nữ xuất cảnh lấy chồng Trung Quốc không qua thủ tục tư pháp gây khó khăn cho việc quản lý nhân khẩu, hộ tịch. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp: nâng cao nhận thức pháp luật thông qua cán bộ thôn bản, người có uy tín; phát triển kinh tế vùng cao để giảm nghèo; tăng cường phối hợp liên ngành giữa tư pháp, biên phòng và chính quyền địa phương trong quản lý hôn nhân vùng biên.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên trong chuyên ngành Nhân học nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về thực trạng hôn nhân của người Dao Đỏ tại tỉnh Cao Bằng. Luận án bổ sung nguồn tư liệu dân tộc học mới về phong tục, nghi lễ chu kỳ đời người của nhóm Dao Đỏ ở địa bàn biên giới Đông Bắc, làm sáng tỏ cơ chế biến đổi văn hóa hôn nhân dưới tác động của tiến trình đổi mới, mở cửa và tiếp biến văn hóa.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực chứng phản ánh các vướng mắc giữa luật tục và luật pháp trong đời sống hôn nhân đương đại. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định chính sách dân tộc, Ủy ban Dân tộc, chính quyền tỉnh Cao Bằng, huyện Nguyên Bình và huyện Hà Quảng trong việc:

  • Cụ thể hóa các biện pháp thực thi Luật Hôn nhân và Gia đình, phòng ngừa và đẩy lùi tình trạng tảo hôn.
  • Quản lý nhà nước đối với các trường hợp kết hôn xuyên biên giới không hôn thú tại các xã giáp ranh Trung Quốc.
  • Xây dựng hương ước, quy ước thôn bản gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới, vừa loại bỏ hủ tục tốn kém, vừa bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi không gian, luận án chỉ tiến hành khảo sát thực địa tập trung tại hai huyện Nguyên Bình và Hà Quảng, chưa thể bao quát các cộng đồng người Dao Đỏ sinh sống tại các huyện khác của tỉnh Cao Bằng như Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thạch An. Bên cạnh đó, việc tiếp cận các dữ liệu tư pháp và đời sống thực tế của các cặp vợ chồng trong quan hệ hôn nhân xuyên biên giới Việt - Trung còn gặp rào cản về mặt địa lý và thủ tục pháp lý.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, đề tài gợi mở việc mở rộng địa bàn điều tra sang các tỉnh lân cận thuộc vùng Đông Bắc và Tây Bắc có người Dao Đỏ cư trú (như Hà Giang, Lào Cai, Tuyên Quang, Lạng Sơn) nhằm thiết lập cái nhìn so sánh toàn diện về biến đổi hôn nhân liên vùng. Ngoài ra, việc nghiên cứu chuyên biệt về địa vị pháp lý, sinh kế và sự hòa nhập xã hội của phụ nữ Dao di cư kết hôn qua biên giới là hướng đi cần được tiếp tục theo dõi dưới góc độ nhân học pháp lý và nhân học xuyên quốc gia.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Giới nghiên cứu và giảng viên: Là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo hữu ích cho các chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học, Văn hóa học, Xã hội học gia đình và Xã hội học nông thôn; cung cấp nguồn tư liệu dân tộc học thực địa chuẩn xác phục vụ giảng dạy về văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.
  • Học viên, nghiên cứu sinh: Cung cấp khung phương pháp luận điền dã kết hợp định tính (quan sát tham dự, phỏng vấn sâu) với định lượng (phiếu hỏi hộ gia đình) trong nghiên cứu hôn nhân tộc người.
  • Nhà quản lý và hoạch định chính sách: Giúp cán bộ làm công tác tư pháp, cơ quan công tác dân tộc các cấp, cán bộ phụ nữ, lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng nắm vững cơ sở thực tiễn để triển khai công tác tuyên truyền pháp luật hôn nhân, quản lý đường biên và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.

Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản gồm hệ thống mô tả chi tiết các bước nghi lễ hôn nhân truyền thống ở Chương 3 và hệ thống bảng số liệu khảo sát thực địa về biến đổi hôn nhân, quan hệ hôn nhân xuyên biên giới ở Chương 2 và Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Địa bàn khảo sát thực địa của luận án được tiến hành tại những địa phương cụ thể nào?
Nghiên cứu sinh thực hiện khảo sát tại hai huyện thuộc tỉnh Cao Bằng: huyện Hà Quảng (khảo sát tại xóm Tềnh Quốc, Lũng Quẩy, Phác Lùng, Phiêng Pán thuộc xã Cần Nông và xóm Lũng Tỳ thuộc xã Lương Thông) và huyện Nguyên Bình (khảo sát tại xóm Lũng Pán, Lũng Vài, Lũng Chang, Lũng Ỉn thuộc xã Vũ Minh).

2. Quy mô mẫu và các công cụ thu thập dữ liệu điền dã của luận án gồm những gì?
Luận án sử dụng: 300 phiếu hỏi hộ gia đình (150 phiếu tại Hà Quảng, 150 phiếu tại Nguyên Bình); 30 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp và qua điện thoại; gần 20 cuộc thảo luận nhóm (quy mô 3 - 10 người/nhóm); trực tiếp quan sát tham dự 03 đám cưới thực tế (năm 2021 tại xã Vũ Minh, năm 2021 tại xã Cần Nông và tháng 11/2022 tại xã Vũ Minh).

3. Nghi lễ hôn nhân truyền thống của người Dao Đỏ tại Cao Bằng gồm những bước cơ bản nào?
Trước đám cưới có: lễ xin lá số tử vi (mình cho nìn keng), lễ thỏa thuận giữa hai gia đình (mình kong xìn chà cao), lễ ăn hỏi và trao vật làm tin (mình quý-ế lẩy), lễ chọn và báo ngày cưới. Trong đám cưới có lễ cúng tổ tiên và tổ chức cưới bên nhà trai (cô dâu được đưa sang nhà trai làm lễ chính, tiệc cưới gồm 4 bữa và có tục chia thịt, rượu biếu đoàn nhà gái). Sau đám cưới có lễ lại mặt (duốn tả kèng tiu) và lễ quy tụ hôn nhân.

4. Dân số người Dao chiếm tỷ lệ bao nhiêu tại địa bàn nghiên cứu theo số liệu trong luận án?
Theo số liệu Tổng điều tra năm 2019 được trích dẫn trong văn bản, tỉnh Cao Bằng có 54.908 người Dao (chiếm 1,49% dân số toàn tỉnh). Tại huyện Nguyên Bình, người Dao chiếm 57,26% dân số toàn huyện; riêng tại xã Vũ Minh, người Dao chiếm 71,6% dân số và toàn bộ là người Dao Đỏ. Tại xã Lương Thông (huyện Hà Quảng), người Dao Đỏ chiếm 57,66% dân số xã.

5. Những xu hướng biến đổi hôn nhân chính của người Dao Đỏ được luận án chỉ ra là gì?
Văn bản nêu rõ 5 xu hướng: (1) Tiếp nhận văn hóa cưới hỏi của các tộc người khác; (2) Giản tiện trong thực hành các nghi lễ và lễ vật; (3) Gia tăng kết hôn khác tộc người và khác địa phương; (4) Tiếp diễn quan hệ kết hôn xuyên biên giới với cư dân bên kia biên giới Việt - Trung; (5) Phục hồi và bảo tồn có ý thức các giá trị văn hóa tiêu biểu của dân tộc.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Nhân học của Ngô Thị Phương Thảo đã làm rõ bức tranh toàn diện về thực trạng và sự biến đổi trong hôn nhân của người Dao Đỏ tại tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2015 - 2022. Công trình phân tích có hệ thống từ quan niệm, nguyên tắc, các bước thực hành nghi lễ truyền thống đến những chuyển biến dưới tác động của kinh tế - xã hội, chính sách dân tộc và vị trí địa lý vùng biên giới. Qua nguồn tư liệu điền dã thực chứng phong phú, luận án xác lập cơ sở khoa học để nhận diện các giá trị văn hóa cần bảo tồn, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa luật tục và pháp luật, phục vụ công tác quản lý nhà nước và xây dựng đời sống văn hóa mới tại địa phương.