CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong đề tài.1 Khái niệm về nhận thức, thái độ, hứng thú.1 Khái niệm nhận thức. Nhận thức là hoạt động tâm lý nhằm mục đích hiểu biết sự vật hay hiện tượng xung quanh hoặc bản thân. Nhận thức là một trong 3 mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người: nhận thức, tình cảm và hành động. Nhân thức học tập là hoạt động tâm lý thể hiện ý thức của người học đối với việc học tập.
Thể hiện qua hệ thống các hành vi, động cơ, hứng thú học tập và là nhân tố quyết định hiệu quả học tập của người học.2 Khái niệm thái độ. - 12 - Quá trình nhận thức của con người thường gắn liền với thái độ và chúng luôn chịu ảnh hưởng, quy định lẫn nhau. Nhà tâm lý học người Mỹ G.Allport năm 1935 định nghĩa thái độ như sau: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được hình thành thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hay ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân đến các tình huống và khách thể mà nó có thiết lập mối quan hệ”5 Trong khi đó, vào năm 1948 Rokeach định nghĩa thái độ theo cách khác. Theo ông: thái độ là một định hướng hay tùy ý sử dụng được tập quen tạo ra một khuynh hướng phản ứng có lợi hay bất lợi đối với đối tượng hay tình huống.
Jonh Traven định nghĩa: “Thái độ là cách cảm xúc, tư duy và hành động tương đối lâu dài đối với sự việc hay con người”6. Theo từ điển Viếng Việt do Hoàng Phê chủ biên trong đó định nghĩa thái độ là: “những biểu hiện ra bên ngoài như nét mặt, điệu bộ, cử chỉ, lời nói, hành động… của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó”. Tóm lại thái độ là một khái niệm tâm lý học khó xác định một cách chính xác. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều tổng kết rằng thái độ là yếu tố tâm lý bên trong và nó có ảnh hưởng nhất định đến hành vi, phản ứng của con người.3 Khái niệm hứng thú.
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong cuộc sống vừa đem lại cho cá nhân một sự hấp dẫn về mặt tình cảm. Hứng thú đã bao hàm nhu cầu, vì vậy giữa hứng thú và nhu cầu có mối liên hệ với nhau. Nhu cầu gây ra hứng thú, hứng thú tạo ra nhu cầu, nhưng những hứng thú và nhu cầu sau bao giờ cũng cao hơn những nhu cầu, hứng thú trước đó. Vì vậy nó thúc đầy người học tích cực hoạt động để từ đó phát triển nhân cách.
Khi con người lao động có hứng thú thì hứng thú đóng vai trò là động cơ mạnh mẽ 5 Nicky Heyes, (2005), Nền tảng Tâm lý học, NXB Lao Động. 6 Nicky Heyes, (2005), Nền tảng Tâm lý học, NXB Lao Động. - 13 - thúc đẩy con người tích cực hoạt động. Trong học tập cũng vậy, hứng thú là động cơ thúc đẩy người học nỗ lực chiếm lĩnh tri thức, thúc đẩy học tập của học sinh.2 Khái niệm về trẻ khuyết tật Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), khái niệm trẻ khuyết tật gắn với 3 yếu tố cơ bản sau: + Những thiếu hụt về cấu trúc cơ thể và sự suy giảm các chức năng.
+ Những hạn chế trong hoạt động của cá thể. + Môi trường sống: những khó khăn trở ngại do môi trường sống mang lại làm cho họ không thể tham gia đầy đủ và có hiệu quả mọi hoạt động trong cộng đồng. Theo quan điểm của giáo dục thì: “trẻ khuyết tật là trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc, sai lệch về chức năng cơ thể, dẫn đến gặp khó khăn nhất định trong cuộc sống cá nhân, hoạt động xã hội và học tập theo chương trình giáo dục phổ thông nếu không được hỗ trợ đặc biệt về phương pháp giáo dục – dạy học và những trang thiết bị trợ giúp cần thiết”7. Sự thiếu hụt về cấu trúc và hạn chế về chức năng ở trẻ khuyết tật biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau.
Các nhóm khuyết tật chính gồm: trẻ khiếm thính, khiếm thị, chậm phát triển, trẻ khuyết tật vận động, trẻ khó khăn về ngô ngữ, trẻ đa tật và trẻ có các dạng tật khác.3 Khái niệm trẻ khiếm thính 1. “Khiếm thính là dạng khuyết tật chỉ sự suy giảm hay mất khả năng nghe dẫn đến chậm phát triển ngô ngữ hoặc câm, hạn chế chức năng giao tiếp, ảnh hưởng đến quá trình nhận thức và các chức năng tâm lý khác tùy theo mức độ suy giảm thính lực”8. Khiếm thính thường được chia ra theo các mức độ sau: 7 Nguyễn Xuân Hải, Giáo dục học Trẻ khuyết tật, NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 8 Nguyễn Xuân Hải, Giáo dục học Trẻ khuyết tật, NXB Giáo dục Việt Nam, tr.
- 14 - Mức 1: Điếc nhẹ. Sức nghe từ khoảng 20 – 40dB (đề xi ben). Ở mức độ này trẻ còn nghe được âm thanh, lời nói bình thường trong môi trường yên tĩnh và nhìn được khẩu hình miệng của người nói. Trong lớp học có âm thanh nền lớn trẻ sẽ gặp khó khăn như nghe không đầy đủ.
Mức 2: Điếc vừa. Sức nghe từ 41 – 70dB. Trẻ nghe được tiếng nói to khi nhìn hình miệng trong môi trường yên tĩnh. Nếu có máy trợ thính phù hợp trẻ có thể nghe được bình thường.
Mức 3: Điếc nặng. Sức nghe còn trong khoảng từ 71 – 90dB. Trẻ có thể nghe được một số âm thanh tiếng nói nếu được sử dụng máy trợ thính phù hợp, nếu không trang bị máy trợ thính phù hợp trẻ khó có thể giao tiếp bằng lời. Mức 4: Điếc sâu.
Sức nghe còn trong khoảng 91dB trở lên trẻ có thể nghe được một số âm thanh tiếng nói nếu được trang bị máy trợ thính phù hợp và được luyện tập từ nhỏ tiếng nói của trẻ không hoàn chỉnh hoặc không có. Trẻ chủ yếu giao tiếp bằng cử chỉ.2 Phân loại các nhóm trẻ khiếm thính. Để hiểu sâu sắc và đúng đắn về trẻ khiếm thính chúng Ta cũng cần phải phân loại các nhóm trẻ khiếm thính cơ bản dưới góc độ tâm lý giáo dục. Điều này có một ý nghĩa quan trọng đối với lý luận và thực tiễn giáo dục trẻ, đối với việc chuẩn đoán đúng trẻ, xác định đúng hình thức hỗ trợ phù hợp với trẻ khiếm thính.
Cơ sở phân loại: Mức độ mất sức nghe. Thời gian mất sức nghe. Trình độ phát triển ngôn ngữ. Phân loại trẻ theo mức độ mất sức nghe: Mức 1: Điếc nhẹ từ 20 – 40dB Mức 2: Điếc vừa từ 41 – 70dB Mức 3: Điếc nặng từ 71 - 90dB Mức 4: Điếc sâu trên 90dB.
Phân loại trẻ theo thời gian mất sức nghe: - 15 - Trẻ sinh ra đã bị tổn thương thính giác Trẻ mất sức nghe trước khi bắt đầu phát triển ngôn ngữ. Trẻ mất sức nghe ở giai đoạn đầu của sự phát triển ngôn ngữ. Trẻ mất sức nghe khi ngôn ngữ đã hình thành. Phân loại trẻ theo trình độ phát triển ngôn ngữ: Trẻ điếc và không có ngôn ngữ: là những trẻ mất sức nghe đến mức mất luôn cả khả năng ngôn ngữ cũng như khả năng làm chủ ngôn ngữ.
Trẻ điếc với ngôn ngữ hạn chế: là những trẻ mất thính lực khi mà ngôn ngữ thức tế của chúng đã được hình thành. Với những trẻ này chúng ta cố gắng gìn giữ và phát huy kỹ năng và vốn từ ngữ đã có ở chúng. Trẻ nghe kém: là những trẻ bị phá hủy một phần chức năng thính giác. Tùy theo sức nghe còn lại một số trẻ trong nhóm trẻ này có thể tự nắm ngôn ngữ theo mức độ nào đó trong quá trình giao tiếp.
Tuy nhiên ngôn ngữ này cần phải được điều chỉnh trong quá trình giáo dục.4 Khái niệm giáo dục chuyên biệt. “Giáo dục chuyên biệt là hình thức giáo dục tách biệt có các dạng khuyết tật khác nhau vào cơ sở giáo dục riêng. Đây là mô hình xuất hiện sớm nhất trong lịch sử giáo dục trẻ khuyết tật. Nó được thực hiện được từ những năm đầu của thế kỉ XI ở các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha và một số nước châu Âu khác.
Dần dần cách tập trung trẻ khuyết tật để dạy được phát triển ở nhiều nước và trở thành hệ thống các trường chuyên biệt dạy trẻ khuyết tật. Mỗi loại trẻ khuyết tật lại được chia thành những loại nặng nhẹ khác nhau được dạy trong những lớp học, những trường riêng. Ở đây trẻ được dạy chương trình riêng theo những phương pháp riêng, tách biệt với hệ thống giáo dục quốc dân”9. Giáo dục chuyên biệt trẻ khuyết tật nhằm đạt được những mục tiêu chính sau đây: 9 Nguyễn Xuân Hải, Giáo dục học Trẻ khuyết tật, NXB Giáo dục Việt Nam, tr.
- 16 - - Mục tiêu nhân đạo. - Mục tiêu chăm sóc giáo dục. - Mục tiêu giám sát, quản lí Do thực tế Việt Nam, trẻ khiếm thính đến trường không theo độ tuổi quy định nên thường chia trẻ vào lớp theo 2 theo cách: - Chia theo độ tuổi: Ở lớp học này mức độ phát triển ngôn ngữ của học sinh khác nhau, giáo viên phải xây dựng những mục tiêu riêng cho từng trẻ trong mỗi bài giảng. Sự phát triển của trẻ thường không đồng đều.
- Chia theo khả năng phát triển ngôn ngữ: Thuận lợi cho việc dạy ngôn ngữ nhưng có nhiều khó khăn trong việc dạy kiến thức và giáo dục do có sự chênh lệch về độ tuổi, khác nhau về nhu cầu và vốn kinh nghiệm. Mô hình giáo dục chuyên biệt đã hình thành và phát triển trong một thời gian dài đến 3 thế kỉ và vẫn tồn tại cho đến hiện nay. Hình thức giáo dục chuyên biệt đã làm cho một bộ phận không nhỏ trẻ khyết tật được chăm sóc và giáo dục. Giáo dục chuyên biệt hình thành và phát triển cho đến nay vẫn phù hợp với điều kiện xã hội, kinh tế, trình độ nhận thức, trình độ phát triển khoa học kĩ thuật của nhân loại.
Đóng vai trò tích cực trong lịch sử phát triển của tật học cũng như của nền giáo dục.2 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ khiếm thính.1 Đặc điểm sinh lý của trẻ khiếm thính. Cảm thụ âm thanh là một quá trình phức tạp xảy ra trong cơ quan phân tích thính giác. Cơ quan phân tích thính giác gồm 3 phần: Phần ngoại biên: Tai. Đường dẫn truyền: dây thần kinh thính giác.
Phần trung ương: Trung khu thính giác tại thùy thái dương của vỏ não. Tai là bộ phận phân tích bên ngoài của cơ quan phân tích thính giác. Tai gồm: Tai ngoài, tai giữa và tai trong.