Chương 1 khái niệm, vai trò và đặc điểm của Chức sắc tôn giáo ở nước ta hiện nay 1. Khái niệm chức sắc tôn giáo 1. Khái niệm Chức sắc tôn giáo1 (clergy) là thuật ngữ để chỉ những người lãnh đạo các tôn giáo nhất định. Thuật ngữ này bắt nguồn từ khái niệm hopapos êë̃ñï- ̣klçros, có nghĩa là “nhiều”, nói ẩn dụ là “di sản”.
Tùy theo mỗi tôn giáo, chức sắc tôn giáo thường quan tâm tới các nghi lễ của tôn giáo, hoạt động truyền đạo và hướng dẫn thực hành tôn giáo. Họ đóng vai trò chủ chốt trong những hoạt động liên quan đến các sự kiện tiêu biểu xảy ra trong vòng đời mỗi con người tín đồ, như những nghi lễ khi sinh, lão, bệnh, tử, lễ rửa tội, lễ cắt bao qui đầu, lễ hôn phối. Chức sắc tôn giáo giống và khác với “giới tu hành”. Giới tu hành (Priesthood): là tập hợp những linh mục, thày Saman hay những người có uy tín.
Những người này có quyền năng tôn giáo đặc biệt. Thuật ngữ priest (thày tu) có nguồn gốc từ Hi Lạp, chỉ những người cao tuổi hoặc có thứ bậc cao, thường được sử dụng để chỉ các chức sắc cụ thể. Như vậy, trong giới tu hành không phải ai cũng là chức sắc, cho dù họ rất có vai trò quan trọng, mà chỉ những ai có vị trí “lãnh đạo” trong các tôn giáo thì mới là chức sắc. Vậy chức sắc chỉ là một bộ phận của giới tu hành.
Có thể là hơi khập khiễng trong so sánh, nhưng để dễ hình dung, phân biệt, thì cũng giống như trường hợp người dân phân biệt về các đảng viên của Đảng ta, đó là “đảng viên thường” và “đảng viên có chức quyền”. Ở đây, chức sắc tôn giáo giống như đảng viên có chức quyền vậy. Chức sắc tôn giáo cũng khác với nhà thần học. Nhà thần học là những học giả tôn giáo và thần học, họ không nhất thiết phải là chức sắc tôn giáo.
Một người bình thường (không là chức sắc tôn giáo) cũng có thể là một nhà thần học2. ở nước ta, theo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, trong mục giải thích các từ ngữ (khái niệm) đã làm rõ khái niệm chức sắc tôn giáo và nhà tu hành tôn giáo từ phương diện quản lý Nhà nước đối với tôn giáo. 1 Cũng để nói đến giới tăng lữ. 2 Xem: http: //www.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 Theo đó: Chức sắc là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo.
Còn, Nhà tu hành là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo 3. Trên thực tế, những người không có tôn giáo thường bị, hoặc là nhầm lẫn chức sắc tôn giáo với nhà tu hành, hoặc với chức việc của tôn giáo (là những người hoạt động tôn giáo không chuyên nghiệp trong các tôn giáo); hoặc là đồng nhất các khái niệm đó vào một khái niệm chức sắc tôn giáo. Vậy, nắm vững khái niệm chức sắc tôn giáo, theo tinh thần Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo cần chú ý đến việc hội đủ 3 dấu hiệu căn bản như sau: Một, trước hết, chức sắc tôn giáo phải là tín đồ của một tôn giáo. Vì thế, có người còn gọi chức sắc tôn giáo là “tín đồ đặc biệt”.
Hai, họ phải là người có chức vụ nhất định trong tổ chức giáo hội tôn giáo. Bởi vì tổ chức tôn giáo chính là nền “hành chính đạo”, điều hành, quản lý toàn bộ hoạt động tôn giáo và gắn với đó là những vị trí cao thấp khác nhau (chức vụ) do mỗi người đảm trách. Theo đó, với những tôn giáo không có tổ chức thì sẽ không có chức vụ, chức sắc. Ba, họ còn phải có phẩm sắc (phẩm trật) tôn giáo, do công lao tu tập của họ và được tổ chức tôn giáo suy tôn, thừa nhận và cho hưởng (tất nhiên là phải có và phải theo quy định gắn với lễ nghi) chiểu theo công trạng, đạo hạnh, thời gian tu tập và cống hiến của họ cho tôn giáo đó.
Theo đó, ở nước ta hiện nay, trong các tôn giáo lớn, có Phật giáo Hoà Hảo, ngay từ khi ra đời đã chủ trương không có chức sắc và hàng giáo phẩm, nên tôn giáo này chỉ có các chức việc chứ không có chức sắc. Tuy nhiên, khái niệm chức sắc tôn giáo được định nghĩa như trên cũng chỉ mới xuất phát từ phương diện quản lý Nhà nước đối với tôn giáo hiện nay ở nước ta và cũng chưa phải đã đáp ứng đầy đủ cho công tác tôn giáo, càng chưa thể thoả mãn đối với nhận thức về tôn giáo nói chung. Vì thế, khái niệm chức sắc tôn giáo sẽ còn có những định nghĩa khác nữa của các ngành khoa học liên quan đến tôn giáo và việc này 3 Ban tôn giáo Chính phủ (2004), Tài liệu phổ biến Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, NXB Tôn giáo, Hà nội, tr.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 là tất nhiên, như một sự tìm tòi, phát triển nhận thức rất đáng được khuyến khích. Hơn nữa, bản thân mỗi tôn giáo cũng lại có những quy định cụ thể về chức sắc của tôn giáo mình.
Với tinh thần đó, chúng tôi xin nêu ra, như là sự bổ sung vào các định nghĩa đã có về khái niệm chức sắc tôn giáo. Đó là: Chức sắc tôn giáo là tín đồ tôn giáo, có vai trò lớn trong các hoạt động tôn giáo: Truyền đạo, hành đạo và quản đạo, được cộng đồng, tổ chức tôn giáo suy tôn và thừa nhận. Với định nghĩa này, tính chu diên của khái niệm chức sắc tôn giáo là rộng hơn so với định nghĩa trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, vì chúng tôi không đưa vào nội hàm khái niệm dấu hiệu “phẩm sắc tôn giáo”. Theo định nghĩa này, chức sắc tôn giáo không chỉ bao gồm những người có chức vụ trong tôn giáo, mà còn có cả những ai có trọng trách trong hành đạo và truyền đạo.
Họ gồm những người tu hành và không tu hành, như chức việc. Về truyền đạo, đây là bổn phận của mọi tín đồ, nhưng với tín đồ không được đào tạo, không phải là nhà hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp và bán chuyên thì những người tín đồ bình thường không thể có khả năng lớn như chức sắc của họ. Theo định nghĩa này, chức sắc tôn giáo chính là những đối tượng đặc biệt quan trọng mà công tác tôn giáo phải có sự quan tâm thường xuyên. Điều này lý giả tại sao các cơ quan làm công tác tôn giáo ở nước ta khi nói đến chức sắc tôn giáo thường gọi ra cả các nhà tu hành, chức việc tôn giáo.
Trong đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng định nghĩa chức sắc tôn giáo ở Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo để đảm bảo mục tiêu đề tài, nhưng trong một số trường hợp, sẽ sử dụng định nghĩa như đã đưa ra trên đây. Chức sắc một số tôn giáo lớn ở Việt Nam 1. Chức sắc Phật giáo Chức sắc Phật giáo gồm có tăng và ni (Riêng hệ phái Nam tông không có ni và không phải tăng ni nào cũng là chức sắc). Theo lời giáo huấn của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni, những tăng ni phải sống một cuộc sống thiền định khổ hạnh, như những người hành khất suốt 9 tháng trong một năm.
Tuy nhiên, trong thời kỳ hiện đại, chức sắc Phật giáo đã có những thay đổi rất lớn giữa các quốc gia. Ví dụ, đối với một số tông phái Phật giáo ở Triều Tiên, Nhật Bản, các chức sắc Phật giáo có thể được lập gia đình (ở miền Nam nước ta cũng có một số “kinh sư” có vợ con). Cũng như các nhà tu Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 hành Phật giáo ở Tây Tạng không nhận thụ phong mang tính (tôn giáo) Phật giáo là phổ biến hiện nay. Còn ở các quốc gia khác theo Phật giáo Nam tông (Theravada), như Thái Lan, Brunây, Srilanca, có khuynh hướng duy trì quan điểm bảo thủ về đời sống tôn giáo và tiếp tục giữ ý kiến cấm các tăng không được đụng chạm vào phụ nữ và làm những công việc thế tục.
Trong khi chức sắc Phật giáo, là nữ giới, đều có ở hầu hết các nước có Phật giáo, thì từ thế kỷ XI – XV, tại các nước theo Phật giáo Nam tông ở Đông Nam á và Srilanca không có chức sắc Phật giáo là nữ giới, và đây vẫn là chủ đề gây tranh luận hiện nay. Sự đa dạng hoá của các tông phái Phật giáo gây khó khăn cho việc xác định chức sắc Phật giáo. Các tăng sỹ Phật giáo Nam tông ở Thái lan sống ẩn dật trong rừng, cuộc đời tận hiến cho thiền định, thực hành sự khổ hạnh, họ sống thành những cộng đồng nhỏ ở các vùng nông thôn, cuộc sống khác xa so với các tu sỹ ở thành phố. Trong tông phái Thiền, chức sắc lao động chân tay là một phần quan trọng của đời sống tôn giáo; trong khi đó đối với Phật giáo Nam tông vẫn cấm các tăng sỹ làm việc như những người lao động bình thường và nông dân.
ở nước ta, chức sắc, phẩm trật của Phật giáo bao gồm: Đối với nam (tăng), từ thấp đến cao là Đại đức, Thượng tọa và Hòa thượng; tương đương như vậy đối với nữ (ni) là Ni sư và Ni trưởng (Phật giáo Nam tông không có ni). Họ là những người xuất gia tu hành, theo quy định, phải được phép của cha mẹ, không bị tàn tật, đui què, không nói ngọng, không phải là tội phạm hay kẻ trốn nợ. và họ phải được tăng chúng trong chùa hay tự viện đồng ý. Người mới xuất gia tu hành gọi là “tiểu” hay “điều”.
Sau một thời gian tập sự, được tăng chúng đồng ý, họ được thụ giới Sa-di (Sranmanera), người nước ta quen gọi là “sư bác”. Tiếp sau 10 năm hoặc lâu hơn, sa - di, nếu được tăng chúng nhận xét là có đủ tư cách và trình độ thì được thụ giới “tỷ kheo” (Bihkkhu), qua một giới đàn được 4 tổ chức trọng thể và họ được gọi là “đại đức” hay “sư ông”. Tiếp nữa, những tỷ kheo có 5 nhiều tuổi hạ , có đạo hạnh và trình độ Phật 4 Chú thích: Vì khiêm tốn, nên nhiều vị muốn được gọi là “sư ông”. 5 Chú thích: Một năm các vị tăng ni có 3 tháng, vào hè, hay có mưa, tại một ngôi chùa, hay tự viện để tu học (goi là Hạ an cư hay Vũ an cư).
Đó là mùa An cư kiết hạ của Phật giáo.