Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Giải phẫu tổ chức học của răng và vùng quanh răng. Dịch tễ học sâu răng và viêm lợi. Các biện pháp phòng bệnh sâu răng và viêm lợi cho học sinh.17 Chương 2: ĐOI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cửu.
Đối tượng nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu định lượng. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu. Phân tích và xử lý số liệu:. Các biến số nghiên cứu:. Một số định nghĩa trong nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục.35 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu. Thông tin chung về học sinh. Thông tin về tình trạng SRVL của học sinh.
Kiến thức và thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh. Việc CSRM cho học sinh của các bậc phụ huynh. Các giải pháp về phòng chống SRVL cho học sinh. Một số yếu tố liên quan.
56 Chương 4: BÀN LUẬN. Thông tin chung về học sinh. Bệnh sâu răng và viêm lợi. Kiến thức, thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh.
Việc CSRM cho học sinh của các bậc phụ huynh. Các giải pháp phòng chống SRVL. Một số yếu tố liên quan. 75 Chương 5: KẾT LUẬN.
Thực trạng SRVL. Kiến thức, thực hành CSRM của học sinh. Việc thực hành CSRM cho học sinh của các bậc phụ huynh. Một số yếu tố liên quan.
79 Chương 6: KHUYẾN NGHỊ.80 TÀI LIỆU THAM KHẢO.100 iii DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT CPITN : Chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng ở cộng đồng CSRM : Chăm sóc răng miệng DMFT : Chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu KCB : Khám chữa bệnh KTTH : Kiến thức, thực hành MBVK : Mảng bám vi khuẩn NCV : Nghiên cứu viên NHĐ : Nha học đường RHM : Răng SKRM : Sức khỏe răng miệng SR : Sâu răng SRVL : Sâu răng, viêm lợi SRVV : Sâu răng vĩnh viễn TTYT : Trung tâm y tế VSRM : Vệ sinh răng miệng WHO : World Health Organisation. ■ iv TÓM TẤT NGHIÊN cứu Bệnh sâu răng và viêm lợi là hai bệnh phổ biến nhất trong các bệnh răng miệng và cũng là hai bệnh phố biến nhất trong xã hội. Tỷ lệ mắc sớm, phổ biến và tốn kém về kinh phí cho mọi quốc gia. Năm 1994 WHO đánh giá bệnh sâu răng và viêm lợi nước ta vào loại cao nhất thế giới.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng mô tả cắt ngang kết hợp với nghiên cứu định tính với đề tài : “Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi và một số yếu tổ liên quan ở học sinh lớp 5 huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây năm 2007”. Nghiên cứu được tiến hành qua việc khám và phỏng vấn trên 289 học sinh khối lớp 5 ; phỏng vấn sâu các thầy (cô) giáo, cán bộ nha học đường và thảo luận nhóm trên 12 bậc phụ huynh học sinh ở 3 trường tiểu học ở Hoài Đức, Hà Tây. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sâu răng là 58,48%, chỉ số sâu mất trám là 1,3. Tỷ lệ viêm lợi là 92,39%.
Có 94,4% học sinh có mảng bám răng. Bằng thang điểm chúng tôi có 37,72% học sinh có kiến thức đạt CSRM. Qua việc phỏng vấn và thang điểm cũng cho thấy có 37,72% học sinh có kiến thức CSRM đạt, và có 24,22% học sinh có thực hành đạt, có 42,56% bậc phụ huynh học sinh có kiến thức CSRM cho con mình đạt. Những học sinh có phụ huynh dạy chải răng thì kiến thức đạt cao gấp 1,94 lần những học sinh không có phụ huynh dạy.
Những học sinh có phụ huynh nhắc không cắn các vật cứng có thực hành đạt cao gấp 1,74 lần những học sinh không được phụ huynh nhắc. Những học sinh có kiến thức CSRM đạt thì thực hành đạt cao gấp 9 lần những học sinh có kiến thức CSRM không đạt. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng công tác NHĐ còn yếu kém, việc giảng dạy cho học sinh về CSRM trong nhà trường còn sơ sài về nội dung và thời gian dạy là chưa có nhiều, chưa có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và y tế cơ sở trong công tác NHĐ. Qua nghiên cứu, chúng tôi đã rút ra được những kiến nghị cần thiết, đó là: Đẩy mạnh công tác truyền thông tăng cường kiến thức cho học sinh, qua những chương trình truyền hình chúng yêu thích, qua những phong trào thi đua ngoại khóa nhà trường ; cần phải cung cấp đầy đủ thông tin về kiến thức CSRM cho học sinh V đối với các bậc phụ huynh ; cần đẩy mạnh công tác NHĐ, trong đó cần chú trọng đặc biệt với việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và y tế cơ sở trong công tác NHĐ ; cần tăng cường nhân lực cho công tác NHĐ ở các trường tiểu học, cần đầu tư mô hình học tập cách CSRM trong các nhà trường.
1 ĐẶT VẤN ĐÈ Bệnh răng miệng là bệnh có nhiều ảnh hưởng tới sức khỏe và tính thẩm mỹ của con người. Đây là bệnh có tỷ lệ mắc khá cao ở nước ta cũng như trên thế giới, trong đó bệnh sâu răng và viêm quanh răng là hai bệnh phổ biến nhất. Theo WHO vào những năm 70 đã xếp bệnh sâu răng và viêm lợi là tai họa thứ ba của loài người sau bệnh tim mạch và bệnh ung thư vì những lý do sau : - Bệnh mắc rất sớm, ngay sau khi răng mọc ( 6 tháng tuổi) - Bệnh phổ biến ( Chiếm 90 đến 99% dân số), hiếm có ai không mắc phải - Tổn phí chữa răng rất lớn, vượt qua khă năng chi trả của mọi chính phủ, kể cả những nước giàu có nhất. Ở các nước đang phát triển như ở Việt Nam, xuất phát từ các điều kiện kinh tế như : Kinh tế còn khó khăn, trang thiết bị và cán bộ răng hàm mặt thiếu nghiêm trọng, tỷ lệ mắc bệnh còn cao và có chiều hướng tăng lên.
Năm 1994, WHO đánh giá bệnh sâu răng và viêm lợi nước ta vào loại cao nhất thế giới và nước ta thuộc khu vực các nước có bệnh răng miệng đang tăng lên. Năm 2001 theo Trần Văn Trường và Trịnh Đình Hải tỷ lệ sâu răng ở trẻ 5 đến 6 tuổi là 84,9%, lứa tuổi 12 là 56,6%. Theo Viện Răng hàm mặt, tháng 12/2004, trên 80% dân số nước ta mắc các bệnh về răng hàm mặt trong đó tỷ lệ sâu răng sữa của trẻ em lứa tuổi tiểu học từ 6-8 tuổi là 84,9%, từ 9-11 tuổi là 56,3% [31]. Cũng theo điều tra toàn quốc năm 1991 trên lứa tuổi 12 tỷ lệ sâu răng là 57,33% ; miền nam là 76,33% ; Thành phố Hồ Chí Minh năm 1995 tỷ lệ sâu răng là 78%[39]; Long An năm 2001 tỷ lệ sâu răng là 57,33%[40] ; .Ngoài bệnh sâu răng ra thì còn rất nhiều các bệnh về răng miệng khác như bệnh viêm lợi có tỷ lệ mắc cao mà các em lứa tuổi 12 nói riêng cũng như toàn thể người dân nói chung đang bị mắc hoặc đang có nguy cơ mắc.
Lứa tuổi 12 là lứa tuổi gần như tất cả răng vĩnh viễn đều mọc trên cung hàm (Trừ răng khôn). Đặc điểm là bệnh xảy ra rất sớm, có thể ngay khi đang mọc từ các yếu tố: Răng - Vi Khuẩn - Bột, đường từ đó tạo thành acid kết hợp với thời gian. Lứa tuổi 12 được chọn như là lứa tuổi theo dõi đối với bệnh sâu răng toàn cầu, dùng ■ 2 để so sánh quốc tế và giám sát xu hướng của bệnh. Ở lứa tuổi này vấn đề chăm sóc răng miệng là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và vẻ đẹp răng miệng về sau.
Lứa tuổi này các em hầu hết đang học lớp 5, các em cũng đã có ý thức cá nhân trong việc vệ sinh, và tự chăm sóc sức khỏe nói chung cho chính bản thân mình. Do vậy, việc nghiên cứu các bệnh sâu răng và viêm lợi trên những đối tượng này là việc làm cần thiết để có những can thiệp kịp thời giúp các em có một bộ răng khỏe mạnh và có tính thẩm mỹ. Nước ta từ đầu những năm 80 chương trình nha học đường được Liên Bộ Y tế - Giáo Dục và đào tạo triển khai. Chương trình NHĐ là các hoạt động chăm sóc sức khỏe và dự phòng bệnh răng miệng cho học sinh, đặc biệt là khối học sinh tiểu học nhằm từng bước hạ thấp tỷ lệ bệnh răng miệng và tăng cường sức khỏe cho học sinh nói riêng và cộng đồng nói chung.
Mặc dù chương trình nha học đường được triển khai, song vì thiếu nhân lực, thiếu cơ sở vật chất phục vụ cho công tác, nên hiệu quả vẫn chưa được cao. Hoài Đức là một huyện đồng bằng nằm phía Đông - Bắc của tỉnh Hà Tây cách Thị xã Hà Đông (thủ phủ của tỉnh) 15 km và cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 18 km.3 km2, dân số (31/12/2005) là 190. Mô hình tổ chức màng lưới y tế của huyện bao gồm Phòng Y Te huyện, Bệnh viện huyện, Trung tâm y tế dự phòng huyện và 21 trạm y tế xã và thị trấn. Phòng giáo dục, Phòng Y tế và Trung tâm Y tể Dự phòng huyện đã kết họp triển khai công tác NHĐ, công tác đặc biệt chú trọng vào đối tượng học sinh tiểu học.
Song vì thiếu nhân lực, kinh phí, vật tư nên công tác NHĐ vẫn còn nhiều hạn chế, tỷ lệ mắc các bệnh răng miệng còn khá cao đặc biệt là lứa tuổi 12, tỷ lệ mắc các bệnh sâu răng và viêm lợi theo báo cáo y tế của Trung tâm Y tế dự phòng năm 2006 là 78%. Lứa tuổi 12 là lứa tuổi các em hầu hết là đang học lớp 5 năm học 2006 - 2007 trên địa bàn. Từ những thực tế trên, cho thấy bệnh răng miệng là một vấn đề sức khỏe của cộng đồng nói chung và cũng là vấn đề sức khỏe của học sinh lớp 5 trên địa bàn huyện Hoài Đức nói riêng. Can thiệp nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh răng miệng cho các em học sinh lóp 5 nói riêng và cho cộng đồng nói chung là vấn đề cần thiết.
3 Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với đề tài: “Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 5 huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây năm 2007”. Nghiên cứu triển khai đã cho thấy đuợc rõ thực trạng của một số bệnh răng miệng và biết được một số nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây ra bệnh răng miệng ở khối họ 'nh lớp 5 trên địa bàn huyện.