Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. THựC TRẠNG VÈ DINĨ1 DƯỠNG VÀ sức KHOẺ TRẺ EM LÚ A TUÔĨ HỌC ĐƯỜNG Trò em học đường là một bộ phận quan trọng của cộng đồng, lứa tuồi học đường chiếm một tỳ lệ đáng kể trong tháp dân sổ cùa mồi quốc gia, ờ các nước đang phát triển là 24% và khoảng 15% ở các nước phát triển [49]. Nhũng vấn đề về sức khoẻ, dinh dưỡng cùa lira tuổi liều học được toàn xã hội quan tâm vì nỏ là gỉai đoạn dự trữ các chất dinh dưỡng tạo cơ sở cho sư phát triền nhanh về thể chất rất cần cho cơ thể trong giai đoạn dậy thi [21], [49]. Tầm vóc thấp còi (stunting) ờ lứa tuổi này được coi lả chi tiêu đánh giá lình trạng dinh dưững trong quá khứ.
Nó phàn ánh quá trình tích luỹ chồng chẩt của sự thiểu ẫn và môi trường sổng kém. Cỏ thể dính nghĩa tình trạng dinh dường là tập hợp cảc đặc điềm chức phận cấu trúc vã hoá sinh phân ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cùa cơ thể[ 19]. về mặt dinh dưỡng, các nghiên cứu cho thay vấn đề chính cùa trè cm học đường tại các nước dang phát triền lả thiểu dinh dưỡng protein năng lượng, thiếu máu thiều sát, thiểu iod và nhiễm ký sinh trùng dường ruột. Các nghiên cứu gần đây đã nhận rõ tầm quan trọng của dinh dưỡng cho trẻ em ở lứa tuổi học dường.
Một trong những kết luận chỉnh của cuộc họp "nhóm làm việc SCN về dinh dường cho trẻ em lứa tuổi học đường" ờ Oslo là cẩn cỏ thêm nhiều số liệu về sức khoe và dinh dưỡng cùa trẻ em lứa tuổi học đường đề đánh giá vẩn đề này một cách dầy đủ hơn [56]. Tinh trạng suy đinh dir&ng Trẻ em ở lứa tuổi học đường ít gặp tình trạng thiếu dinh dưỡng nặng, trừ khi nạn đói xảy ra vì ở lứa tuồi này, ưè phát triền chậm hơn so với thời kỳ dưới 5 tuồi, trẻ lại có thể đòi ăn khi bị đói [42], Tuy nhiên, những cuộc điều tra cơ bản đã đề cập 5 đến vẩn đề dinh dưỡng và sức khỏe kém cùa trẻ em lứa tuổi học đường. Trong nghiên cửu cùa Ruth English về tình ưạng dinh dưỡng của trê lứa tuồi học đường ở Mông Cồ cho thấy, khẩu phần hoa quả và rau xanh hàng ngày dược tiêu thụ bới nhóm trỏ này rẩt thấp, không đù đáp ứng nhu cầu vitamin và muối khoáng cần thiết [54], Các nghiên cửu ờ Indonesia, Malaysia năm 1997 và Tanzania năm 2000 đều cho thay cỗ một tỳ lệ khá cao trẻ em học đường vùng nông thôn nghèo bị SDD Protein năng lượng. Tại Indonesia có tới 55% trè em học đường bị thấp cỏi (stunting) và có tới 10% gầy còm (wasting) [46].
Tại Malaysia nhóm trẻ từ 5 - 7 tuổi có tỳ lệ thấp còi là 45,8% và gầy còm lả 43% [51]. Tương tự tình trạng trên, các nhà khoa học ở Tanzania đà xác định có tới 42,5% trè trong các trường phổ thông (7-18 tuồi) đang bị còi cọc và 43% có cân nặng thấp [50]. Ờ các nước đang phát triền, tỳ lệ thiếu dinh dương ờ trẻ học đường lả khá cao, đặc biệt trê em ờ những vùng nông thôn nghèo [42]. số liệu gần đây, trong một cuộc điểu tra về cảc số do nhân trác rất lớn, được thực hiện bởi PCD (Partnership for Children Development -Các thành viên vì sự phát triển cùa trê em) trên 14.000 trẻ học đường nông thôn trong các nước đang phát triển bao gồm Ghana, Tanzania, Indonesia, Ân Độ và Việt Nam đã thấy ràng nhìn chung trẻ học đường ỡ các nước đang phát triển thẩp hơn về chiều cao và nhẹ cân hơn một cách đáng chú ý so với quần thể tham kháo NCHS (National Center for Health Statistic).
Cụ thể, tỳ lệ SDD thấp cỏi là 51% (SDD nặng chìểm 19%); SDD thể gầy 48% (trong đó SDD nặng là 6%)[52]. Có tới 20% tre học dường, được nghiên cứu ờ Việt Nam và Án Độ có cân nặng theo chiều cao thấp. Tình trạng thiếu dinh dưỡng và bé nhỏ ở trè em Việt Nam và Ấn Dộ gặp nhiều hơn so với ba nưởc còn lại. Nhìn chung, những phân tích này đã cho thấy, sự tàng trướng kém là rất phổ biển trong số trẻ học đường nông thôn ở Châu Phi và Châu Á.
Sự phát triển kẽm dường như xuyên suốt những năm sau của tuồi học đường [52]. Thiếu vỉ chất dinh dưỡng cũng như suy dinh dưỡng Protein năng ỉưựng, đang là vấn dề sức khỏe toàn cầu dặc biệt ờ các nước đang phát triền. Theo irởc tinh, gẩn đây nhất có xấp xi 1,3 tỳ người đang bị thiều máu thiếu sẳt, trong đó có khoảng 210 6 triệu người ỉà lửa tuổi học dường. Ở các nước thuộc Nam Á và Châu Phi có khoảng 50% tre lứa tuổi học đường bị thiểu máu [16].
Thiếu vi chất dính dương ảnh hưởng đến sự phát triền thể lực và trí lực trẻ em. Bên cạnh kém phát triển về trí lực, thiểu máu là rất phổ biến ờ trẻ em Tanzania và Ghana nhưng ít phổ biến hơn ỡ trè em dồng bằng sông Hồng của Việt Nam [44]. Diều này có lẽ liên quan tởí tỉnh trạng nhiễm ký sinh trùng. Nghiên cứu cúa Lẽ Thị Hương (năm 1999) cho thểy tỳ lệ thiếu máu thiểu sắt ở trẻ em học đường nông thôn cao hơn thành phố một cách có ý nghĩa [14], Tại Việt Nam, các nghiên cửu về lứa tuồi học dường nói chung còn ít, thiếu các số liệu và khuyến cáo cụ thể về dinh dưỡng cho lứa tuồi học đường.
Tuy đà có một sổ nghiên cứu về phát triển thể lực trẻ em ở lứa tuổi này vào đầu thể kỳ 20 nhưng mời chi là số liệu ờ một sổ vùng nhẩt định. Nghiên cứu của Há Huy Khôi và Bùi Thị Nhu Thuận năm 1985 cho thấy cần nặng và chiều cao cùa học sinh Hà Nội thẩp hơn so với quần thể tham khảo NCHS, nhưng cao hưn so với hằng sổ sinh học Việt Nam (HSSHVN) 1975 cùng như các số liệu công bố trưởc đây. Nghiên cứu cũng chi ra sự khác biệt rõ rệt giữa trẻ em nông thôn và trè em thành phô. Cân nặng và chiều cao trung binh cùa trẻ em Hà nội đểu cao hơn hẳn so với trẻ em vùng nông thôn, tuổi càng tăng cao thi khoáng cách càng rỏ rệt [45].
Nghiên cứu cùa Trần Văn Dần và cộng sự về sự phát triển thể lực cùa học sinh sau hơn một thập kỷ từ nhửng năm 81-90 thể kỳ 20 nhận thấy có sự khác biệt giữa trẻ em nòng thôn và trè em thành phổ. Trẻ em thảnh phổ cỏ xu hướng phát triển thề lực tot hơn trẻ em nông thôn ở mọi lứa tuồi. Một nghiên cửu khác cúa cùng tác giá cho thấy sự phát triển thể lực của học sinh 8-14 tuồi trên một số vùng dân cư miền Bắc Việt nam thập kỷ 90 cũng cố sự gia tăng về chiều cao của học sinh nông thôn và thảnh phố, đặc biệt cân nặng gia tăng rõ rệt ớ trẻ em thảnh phổ [6] [7], Kêt quà Tổng diều tra dinh dưỡng năm 2000 cùa Viện Dinh dưỡng cho thấy [2]: Tỳ lệ gầy ở trê 6 - 8 tuồi thấp hơn so vởì trẻ từ 9 - 14 tuồi. Tỷ lệ SDD cùa nhỏm 6-10 tuối là 26,7%.
Tỷ lệ nảy cao nhất ở đồng bằng sông Cừu Long (37,5%) 7 vả thấp nhất ờ khu vực Tây Nguyên ( 21. Nghiên cứu cũng chi ra tỳ lệ SDD lứa tuồi 6-10 tuổi ở khu vực thảnh thị (19,7%) thấp hơn nông thôn (28,2%). Khi phân loại TTDD cùa tre theo 5 mức chi tiêu cùa hộ gia đình thấy tỳ lệ SDD cò xu hường giảm di khi mức chi tiêu khá lên vả ngược lại tỳ lệ trẻ thừa cân tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ thừa cân ở khu vực thành phố là 6,6%, cao hơn ở nông thôn là 1,2% một cách đảng kể.
Trong đó tỷ lệ thừa cân ờ trè trai cao hơn trẻ gái. về diễn biển cùa mức gia tăng chiều cao so với năm 1975 nhận thấy chiều cao trung bình hiện nay cao hơn trước 4,lem (trẻ trai 7 tuồi) và 3,8cm (trè em gái 7 tuồi), về cân nặng thấy mức tãng lương ứng lả 2,0kg ờ trê trai và 0,8kg ở trẻ gái. vẫn có sự chênh lệch đáng kể về tăng trưởng giữa ưé em thành phổ và nông thôn. Một trẻ em trai 7 tuồi ở thành phố cao hơn ưệ em trai cùng tuồi ở nông thôn 3,7cm và nặng hơn 3,2kg.
Kết quá theo dõi chiểu dọc về sự phát triển trê em từ sơ sinh đển 18 tuổi cùa Lê Thị Hợp và cộng sự trên 218 trè em Hà Nội cho thấy mức tăng cân cùa trê em Việt Nam trong 3 thống đầu không khác so với tiêu chuẩn quổc tế, thậm chí còn cao hơn, nhưng sau dỏ giảm dần. Có hai thời kỳ mà sự thua kém biểu hiện cao nhất là từ 6-12 tháng và 6 - 11 tuồi (lứa tuổi tiểu học) [49].Diều nảy cho thấy, việc theo dõi cũng như cải thiện TTDD không chi quan trọng ờ những năm đầu, mà là quâ trình liên lục, ứong đó những năm đầu tiên của lứa tuồi học đường cùng đỏng một vai trò thiết yếu không kém tuồi tiền học dường. Một nghiên cứu thuần tập hồi cứu cùa Đỗ Phương Hà và Nguyễn Công Khẩn (Viện Dinh dường) năm 2000 ờ trè 7- 8 tuồi cho thấy nhừng trẻ khi 18-30 thảng SDD thề thấp còi có liên quan đến chậm phát triển thể lực và chậm nhận thức ờ học sinh tiều học [10], [11]. Nghiên cửu cùa Phạm Ngọc Khái VC giá trị nhân trắc của trê lừ 7 - 15 tuổi ở trẻ em nông thôn tinh Thái Bình năm 1995 vả năm 2004 nhận thẩy cân nặng, chỉều cao và giá trị BMI cùa trè em năm 2004 đều cao hơn nảm 1995.
cân nặng, chiều cao cùa trê em nông thôn Thái Bình thấp hơn giá trị HSSHVN nhưng đến năm 2004 đã đạt xấp xỉ giá trị này. Khi so sánh tình trạng phát triển thể lực giừa trê em trai và trẻ em gái, cân nặng và chiều cao trẻ em từ 7 - 10 tuẻi không có 8 sự khác biệt giữa nam vả nữ, nhưng từ 11 - 14 tuổi thì ưè gái có cân nặng, chiều cao phát triển nhanh hơn trè trai. Ngược lại, đến tuổi 15 thỉ trẻ trai lại phảt triền nhanh hơn trè gái với cân nặng tăng xấp xi 200gr/năm vả lốc độ gia tăng về chiểu cao xấp xi 0,3 - 0,5cm/năm [28], 1. Tinh trạng thùa cân và béo phì Thừa cần là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng nên có sơ với chiều cao; béo phì là tình trạng tích luỷ mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thề tới mức ảnh hưởng xẩu đến sức khoe.