Chương 1 TỎNG QUAN 1. Giải phẫu và tổ chức học răng[2;5J 1. Các phần của răng Mỗi răng có phần thân răng và chân răng. Giữa thân răng và chân răng là đường cổ răng (cổ răng giải phẫu), là đường nối men - xương răng.
Thân răng được bao bọc bởi men, chân răng được xương răng bao bọc. Cẩu tạo của răng Bao gồm men răng, ngà răng và tủy răng. * Men răng Men răng là mô cứng nhất trong cơ thể, có nguồn gốc từ ngoại bì, có tỷ lệ chất vô cơ cao nhất (khoảng 96%). Men răng phủ toàn bộ thân răng dày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là l,5mm và mỏng nhất ở vùng cổ răng.
Men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi, nhưng có sự trao đổi về vật lý và hóa học với môi trường trong miệng. về mặt hóa học, chất vô cơ chiếm 96%, chủ yếu lả 3[Ca3(PO4)2]. 2H2O còn lại là các muối cacbonat của magiê, và một lượng nhỏ clorua, íluorua và muối sunfat của natri và kali. Thành phần hữu cơ chiếm khoảng 1% trong đó chủ yếu là protit.
về mặt lý học, men răng cứng, giòn, trong và cản tia X, với tỷ trọng từ 2,3-3 so với ngà răng. Cấu trúc học của men răng: Quan sát qua kính hiển vi thấy hai loại đường vân * Đường retzius: Trên tiêu bản cắt ngang là các đường chạy song song nhau và song song với đường viền ngoài của lớp men cũng như với đường ranh giới men ngà ở phía trong. Trên tiêu bản cắt dọc thân răng, đường retzius hợp với đường ranh giới men ngà cũng như với mặt ngoài của men thành một góc nhọn. * Đường trụ men: Chạy suốt chiều dày men răng và hướng thẳng góc với đường ngoài trong của men răng, đôi khi có sự gấp khúc và thay đổi hướng đi của 5 trụ men.
Trụ men có đường kính từ 3-6pm, khi cắt ngang qua trụ men ta thấy tiết diện có các loại hình the: vẩy cá 57%, lăng trụ 30%, không rõ ràng 10%, hướng đi của trụ men tạo ra các dải sáng tối xen kẽ chính là dải Hunter-schrenge. * Ngà răng Có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men, chứa tỷ lệ chất vô cơ thấp hơn men (75%), chủ yếu là 3[Ca3(PO4)2]. Trong ngà răng có nhiều ống ngà, chứa đuôi bào tương của nguyên bào ngà, bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càng dày theo hướng về phía hốc tủy răng, làm hẹp dần ống tủy. về tổ chức học: Ngà răng được chia làm hai loại - Ngà tiên phát chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quá trình hình thành răng, nó bao gồm: ống ngà, chất giữa ống ngà, dây tôm.
- Ngà thứ phát được sinh ra khi răng đã hình thành rồi, nó gồm ngà thứ phát sinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt. Ống ngà: có số lượng từ 15-50000/1 mm2, đường kính ổng từ 3-5 pm, ống ngà chính chạy suốt chiều dày của ngà và tận cùng bằng đầu chốt ở ranh giới men ngà, ống ngà phụ là ống nhỏ hoặc nhánh bên, nhánh tận cùng của ổng ngà chính. Chất giữa ống ngà có cấu trúc sợi được ngấm vôi, sắp xếp thang góc với ống ngà. Dây tôm: nằm trong ống ngà là đuôi nguyên sinh chất của tế bào tạo ngà.
* Tủy rãng Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tủy gồm tủy chân và tủy thân. Tủy răng trong buồng tủy gọi ỉà tủy thân, tủy buồng, tủy răng trong ổng tủy gọi là tủy chân, các nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy. Tủy răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng, cụ thể là sự sống của nguyên bào ngà và tạo ngà thứ cấp, nhận cảm giác của răng. Trong tủy răng có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh.
về tổ chức học, tủy răng gồm hai vùng: Vùng cạnh tủy gồm các lớp tế bào tạo ngà (2-3 lớp) và lóp không có tế bào gồm những tổ chức sợi tạo keo. Vùng giữa tủy là to chức liên kểt có nhiều tế bào, ít tổ chức sợi. 6 * Xương răng Là tổ chức canxi hoá bao phủ vùng ngà chân răng bắt đầu từ cổ răng, cấu trúc xương răng được chia làm hai loại. - Xương râng tiên phát: Ở lớp ngà vùng cổ răng và là loại xương răng không có tế bào.
- Xương răng thứ phát: Có tế bào tạo xương răng bao phủ vùng ngà 2/3 dưới chân răng và cuống răng. Độ dày của xương thay đổi theo vị trí và tuổi, mỏng ở vùng cổ răng và dày hơn ở vùng cuống răng. Quá trình mọc răng Quá trình mọc răng ở trẻ có 3 thời kỳ: - Thời kỳ 1 : Mọc răng sữa, bắt đầu từ 6 đến 30 tháng tuổi - Thời kỳ 2: Mọc răng vĩnh viễn, bắt đầu từ 6 đến 12 tuổi - Thời kỳ 3: Mọc răng khôn từ 16 - 25 tuổi 3. Chức năng của răng Chức năng chính của ráng là ăn nhai.
Quá trình nhai là một quá trình phức tạp, trong quá trình đó, các răng khác nhau có tác dụng khác nhau. Răng cửa dùng để cắt thức ăn, răng nanh có chức năng chủ yếu là xé thức ăn, răng hàm có tác dụng nghiền nát thức ăn. Chức năng phát âm: Răng có liên quan mật thiết đển ngôn ngữ và phát âm. Răng nằm giữa môi và lưỡi, khi phát âm chúng phối hợp với nhau, không thể thiếu bộ phận nào.
Khi phát các âm môi răng và âm lưỡi răng, càng cần có sự tham gia của răng. Các răng phía trước cỏ ảnh hưởng rẩt lớn đối với ngôn ngữ và phát âm, khi bị mất răng cửa do không thể khống chế tổt các luồng hơi phát ra, khi nói sẽ thoát hơi, nếu hoạt động của lưỡi mất đi sự hạn chế của răng trước cũng ảnh hưởng đến độ chính xác của việc phát âm. Hơn nữa, răng còn có ảnh huởng quan trọng ngoại hình cùa mỗi người. Bệnh sâu răng.
Nguyên nhân và những hiểu biết về sâu răng. Sâu răng là một quá trình bệnh ỉý xuất hiện sau khi răng đã mọc, đặc trưng bởi sự khử khoáng làm tiêu dần các chất vô cơ, hữu cơ ở men răng, ngà răng tạo thành lỗ sâu. 7 Trước năm 1970, người ta cho ràng bệnh căn của sâu răng là do nhiều nguyên nhân với sự tác động của 3 yếu tổ. Vi khuẩn trong miệng (chủ yếu là streptococcus mutans) lên men các chất bột và đường còn dính lại răng tạo thành acid, acid này đã phá hủy tổ chức cứng của răng tạo thành lỗ sâu.
Sự phối hơp của các yếu tố này để gây sâu răng được thể hiện bằng sơ đồ keyes: Sơ đồ keys Với sơ đồ keys, người ta chủ ý nhiều đến chất đường và vi khuẩn streptococcus mutans do đó, việc dự phòng cũng chú ý quan tâm đến chế độ ăn hạn chế đường và VSRM. Khi áp dụng vào thực tế phòng bệnh sâu răng thấy kết quả đạt được không cao, tỷ lệ sâu răng giảm xuống không đáng kể. Sau năm 1975 người ta đã làm sáng tỏ hơn căn nguyên gây bệnh sâu răng và đưa ra sơ đồ white thay thể một vòng tròn trong sơ đồ keys. - Chất đường được thay thế bàng chất nền.
- Nhấn mạnh vai trò của nước bọt và PH của dòng chảy môi trường xung quanh răng - Người ta cũng làm sáng tỏ tác dụng của fluor nó làm cho tổ chức của râng cứng chắc hơn chống được sự phân huỷ của acid tạo thành tổn thương sâu răng[6]. 2F - + Caỉữ (POị) 6 {OH) 2 - > Caw (PO^F^ 2OH - 8 Fluor + Hydroxyapatite -> Fluorapatite có sức đề kháng cao hơn, có khả năng đề kháng sự phá huỷ của H+ -> chống sâu răng. Sơ đồ white Ta có thể tóm lược cơ chế sinh bệnh học của sâu răng được thể hiện bằng hai quá trình tái khoáng và huỷ khoáng. Mỗi quá trình đều có một số yếu tố thúc đẩy, nếu quá trình huỷ khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ dẫn đến sâu răng.
Sâu răng = Hủy khoáng > Tái khoáng Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng: +Mảng bám vi khuẩn +Chế độ ăn đường nhiều lần +Thiểu nước bọt hay nước bọt acid +Acid từ dạ dày tràn lên miệng +PH< 5 Các yếu tố bảo vệ: +Nước bọt +Khả năng kháng acid của men +F‘ có ở bề mặt men ràng +Trám bít hố rãnh +ĐỘ Ca++, NPO4' quanh răng +PH t cơ chế sâu răngỊ7J > 5,5 4. Thực trạng bệnh sâu răng Tổ chức y tế thể giới (WHO) đã đưa ra 5 mức độ sâu răng dựa vào chỉ số SMT ở lứa tuổi 12 và 35 - 44 như sau: Mức độ SMT 12 tuổi SMT 35 - 44 tuổi Rất thấp 0,0- 1,1 0,2- 1,5 Thấp 1,2-2,6 1,6-6,2 Trung bình 2,7-4,4 6,3 -12,7 Cao 4,5 - 6,5 12,8-16,2 Rất cao > 6,6 > 16,3 10 * Tình hình sâu răng trên thế giới. Sau năm 1975 căn nguyên bệnh sâu răng được làm sáng tỏ hơn. Người ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của fluor khi gặp Apatit thường của răng kết hợp thành fluorid apatit rán chắc chống được sự phân hủy tạo thương tổn sâu răng.
Do đó ở những nước phát triển Nhà nước coi chương trình fluor hóa nước uống, thuốc chải răng và giáo dục nha khoa là quốc sách nên bệnh sâu răng giảm mạnh. Ngược lại những nước kém phát triển không được fluor hóa nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa, chế độ ăn đường không đúng nên sâu răng tăng. Ở các nước phát triển: Từ những năm 1940 đến 1960, tình hình sâu răng rất nghiêm trọng, trung bình mỗi trẻ em 12 tuổi có từ 8-10 răng sâu hoặc rãng đã bị mất do sâu. Chỉ số SMT của Na Uy tới mức 12,0 năm 1940, những năm 1980, chỉ số SMT ở tuổi 12 tại các nước này đã giảm xuống mức từ 2,0 - 4,0.
Tới năm 1993, chỉ số SMT tuổi 12 ở hầu hểt các nước công nghiệp hóa đã giảm xuống mức thấp từ 1,2 - 2,6. Nhìn chung từ cuối những năm 1970 tới nay, tình hình sâu răng tại các nước phát triển có xu hướng giảm dần, chỉ số SMT tuổi 12 tại hầu hết các nước ở mức thấp và rất thấp. Điều này có được là do các nước phát triển đã áp dụng triệt để các biện pháp phòng bệnh. Nghiên cứu của Pieper tại Đức cho thấy, chỉ số SMT giảm từ 2,44 (năm 1994-1995) xuống còn 1,81 vào năm 1997 và 1,24 (2000)[36].
Đến năm 2006 nghiên cứu của Shulter chỉ ra sâu răng ở Đức tiếp tục giảm, chỉ số SMT giảm xuống ở mức 0,9 8 [3 8]. Ở các nước đang phát triển: Thời điểm nhũng năm của thập kỷ 1960, tình hình sâu răng ở mức thấp hơn nhiều so với các nước phát ưiển.