Luận án tiến sĩ thực trạng bệnh đái tháo đường tiền đái tháo đường ở người khmer tỉnh hậu giang và đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường, tiền đái tháo đường ở người Khmer tỉnh Hậu Giang và đánh giá hiệu quả biện pháp can thiệp.

Trường đại học

Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

Tác giả

Nguyễn Văn Lành

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2014

194
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Bệnh đái tháo đường và các yếu tố liên quan

1.2. Tình hình nghiên cứu về đái tháo đường

1.3. Hiệu quả của các can thiệp phòng, chống đái tháo đường

1.4. Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Thời gian nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Phân tích xử lý số liệu nghiên cứu

2.6. Khống chế sai số

2.7. Đạo đức trong nghiên cứu

2.8. Cán bộ tham gia nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường, đái tháo đường và các yếu tố liên quan

3.2. Đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp phòng chống tiền đái tháo đường, đái tháo đường ở người dân tộc Khmer tại cộng đồng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Tỷ lệ hiện mắc tiền đái tháo đường, đái tháo đường và một số yếu tố liên quan

4.2. Đánh giá hiệu quả can thiệp phòng chống tiền đái tháo đường, đái tháo đường týp 2 ở người dân tộc Khmer

4.3. Hạn chế của đề tài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

BỘ CÂU HỎI

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC SƠ ĐỒ

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Thực trạng bệnh đái tháo đường và tiền đái tháo đường ở người Khmer tỉnh Hậu Giang

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) và tiền đái tháo đường (TĐTĐ) đang trở thành vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng, đặc biệt trong cộng đồng người Khmer tại tỉnh Hậu Giang. Theo các nghiên cứu, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở người Khmer có xu hướng gia tăng, với nhiều yếu tố nguy cơ liên quan như di truyền, lối sống và chế độ ăn uống. Việc phát hiện sớm và quản lý bệnh là rất cần thiết để giảm thiểu các biến chứng nghiêm trọng. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người Khmer từ 45 tuổi trở lên là đáng kể, với nhiều trường hợp chưa được chẩn đoán. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời nhằm nâng cao nhận thức và cải thiện sức khỏe cộng đồng.

1.1. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường

Tình hình mắc bệnh đái tháo đường ở người Khmer tại Hậu Giang cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với các nhóm dân tộc khác. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có khoảng 9,8% người từ 40-69 tuổi mắc bệnh ĐTĐ, trong đó tỷ lệ ở người Khmer là 11,8%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình giáo dục sức khỏe và can thiệp y tế phù hợp. Các yếu tố như chế độ ăn uống không lành mạnh, thiếu hoạt động thể chất và di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh. Việc nâng cao nhận thức về bệnh và các biện pháp phòng ngừa là rất quan trọng để giảm thiểu gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng.

1.2. Đánh giá hiệu quả can thiệp y tế

Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp y tế cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong nhận thức và hành vi của người dân về phòng chống bệnh đái tháo đường. Các chương trình can thiệp đã được triển khai tại các trạm y tế xã, giúp người dân hiểu rõ hơn về bệnh và cách phòng ngừa. Kết quả cho thấy tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động thể chất và thay đổi chế độ ăn uống đã tăng lên đáng kể. Điều này không chỉ giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Việc tiếp tục duy trì và mở rộng các chương trình can thiệp này là cần thiết để đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng người Khmer tại Hậu Giang.

II. Các yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường ở người Khmer, bao gồm yếu tố di truyền, lối sống và môi trường. Các yếu tố như béo phì, chế độ ăn uống không hợp lý và thiếu hoạt động thể chất là những nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh. Đặc biệt, người Khmer thường có thói quen ăn uống nhiều tinh bột và ít rau xanh, điều này làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp các nhà quản lý y tế xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả hơn nhằm giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng.

2.1. Yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh đái tháo đường. Nghiên cứu cho thấy những người có tiền sử gia đình mắc bệnh ĐTĐ có nguy cơ cao hơn mắc bệnh. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình sàng lọc và tư vấn cho những người có nguy cơ cao. Việc phát hiện sớm có thể giúp giảm thiểu các biến chứng nghiêm trọng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

2.2. Lối sống và chế độ ăn uống

Lối sống và chế độ ăn uống là những yếu tố quyết định đến sức khỏe của người dân. Người Khmer thường có thói quen ăn uống nhiều tinh bột và ít rau xanh, dẫn đến tình trạng béo phì và tăng nguy cơ mắc tiền đái tháo đường. Việc thay đổi thói quen ăn uống và tăng cường hoạt động thể chất là rất cần thiết để phòng ngừa bệnh. Các chương trình giáo dục sức khỏe cần được triển khai để nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của chế độ ăn uống lành mạnh và lối sống tích cực.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ thực trạng bệnh đái tháo đường tiền đái tháo đường ở người khmer tỉnh hậu giang và đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 1. Các định nghĩa về đái tháo đường týp 2. Năm 1550 năm trước Công nguyên bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đã được Thầy thuốc Hy Lạp là Arateus đặt tên là bệnh “Đái tháo” (diabetes)[112].

Từ thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên bệnh cũng được ghi nhận ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ là một bệnh với tiểu ngọt và sau một thế kỷ Dobson chứng minh vị ngọt là do đường. Đảo tụy đã được Langerhans mô tả vào năm 1869 và sau đó nhà khoa học Đức là Mering và Minkowski đã phẫu thuật cắt tụy gây bệnh đái tháo đường thực nghiệm trên chó [19]. Theo Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA), năm 2006, định nghĩa đái tháo đường: “Đái tháo đường týp 2 là bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi tăng đường huyết do sự phối hợp giữa kháng insulin và thiếu đáp ứng insulin”[65]. Theo Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF) năm 2010, định nghĩa đái tháo đường: “Đái tháo đường là nhóm những rối loạn không đồng nhất gồm tăng đường huyết và rối loạn dung nạp glucose do thiếu insulin, do giảm tác dụng của insulin hoặc cả hai.

Đái tháo đường týp 2 đặc trưng bởi kháng insulin và thiếu tương đối insulin, một trong hai rối loạn này có thể xuất hiện ở thời điểm có triệu chứng lâm sàng bệnh đái tháo đường”[101]. “Tiền đái tháo đường (TĐTĐ) là tình trạng suy giảm chuyển hóa glucose bao gồm hai tình huống là rối loạn glucose lúc đói (Impaired Fasting Glucose- IFG) và giảm dung nạp glucose (Impaired Glucose Tolerance- IGF)” [50]. Năm 1979, Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) đã nêu khái niệm giảm dung nạp glucose (GDNG) thay cho thuật ngữ “đái tháo đường giới hạn”. Giảm dung nạp glucose được TCYTTG và Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) xem là giai đoạn tự nhiên của rối loạn chuyển hóa carbohydrate.

Năm 1999, rối loạn glucose lúc đói là thuật ngữ mới được giới thiệu. Cả hai trạng thái này đều có tăng glucose máu nhưng chưa đạt tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường [20]. Năm 2008, tình trạng trên được Hội Đái tháo đường Mỹ có sự đồng thuận của TCYTTG đặt tên chính thức là tiền đái tháo đường (Pre-diabetes) [69],[71],[127]. Sinh bệnh học đái tháo đường týp 2 1.

Nguyên nhân giảm tiết insulin Tế bào bêta của tuyến tuỵ bị tổn thương nên không thể sản sinh ra insulin được. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do cơ chế tự miễn [50]. - Rối loạn tiết insulin. Tế bào bêta của tuỵ bị rối loạn về khả năng sản xuất insulin bình thường về mặt số lượng cũng như chất lượng để đảm bảo cho chuyển hoá glucose bình thường.

Những rối loạn đó có thể là bất thường về nhịp tiết và động học của bài tiết insulin, bất thường về số lượng tiết insulin, bất thường về chất lượng những tế bào peptid có liên quan đến insulin trong máu. Nguyên nhân có sự rối loạn tiết insulin có thể do một số yếu tố sau: Sự tích tụ Triglycerid và acid béo tự do trong máu dẫn đến tăng sự tích tụ Triglycerid là nguyên nhân gây “ngộ độc lipid” ở tụy, tăng nhạy cảm tế bào beta với chất ức chế trương lực α adreneric. - Kháng insulin. Ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, insulin không có khả năng thực hiện những tác động của mình như người bình thường, kháng insulin chủ yếu được nghiên cứu ở gan và cơ.

Kháng insulin ở cơ: Các nghiên cứu đã đề xuất nguyên nhân kháng insulin là vai trò của di truyền, hiện tượng giảm hoạt tính của ezym trong quá trình oxy hoá glucose do tăng acid béo tự do sinh ra từ quá trình phân huỷ lipid. Kháng insulin ở gan là vai trò của tăng glucagon và tăng hoạt tính men PEP - CK Một số tình trạng sinh lý và bệnh lý gây ra sự giảm nhạy cảm insulin như béo phì, thai nghén, bệnh cấp tính, đái tháo đường týp 2. Khi tiết insulin bị thiếu do sự kháng insulin và giảm tiết insulin là cơ sở xảy ra tiền ĐTĐ týp 2 và ĐTĐ týp 2 [118]. Quá trình thu nạp glucose ở các cơ quan, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa sự nhạy cảm của các cơ quan với insulin, với axit béo tự do.

Các axit béo tự do ở nồng độ sinh lý ức chế mạnh sự gắn của insulin vào tế bào gan. Tăng nồng độ axit béo tự do cũng kích thích quá trình tăng sinh glucose tại gan do đó tăng glucose máu và đề kháng insulin. Giảm hoạt tính kinase ở thụ thể có thể là cơ chế chính trong đề kháng insulin trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Khiếm khuyết tại thụ thể và sau thụ thể góp phần đề kháng insulin, giảm gắn insulin là vấn đề chính giai đoạn tiền đái tháo đường [55].

Nhiều tác giả chứng minh rằng có liên quan giữa nồng độ insulin và một số rối loạn sinh lý và chuyển hóa như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, giảm dung nạp glucose [89]. Giai đoạn sớm, kháng insulin biểu hiện bởi sự gia tăng tiết insulin nhằm hạ glucose máu, chức năng tế bào bêta còn đảm bảo nên glucose máu vẫn bình thường. Vào giai đoạn muộn, theo thời gian khi bắt đầu có tế bào bêta suy giảm về số lượng và chất lượng, sự tiết insulin sẽ giảm xuống và đái tháo đường týp 2 sẽ xuất hiện. Một số nghiên cứu cho thấy khi insulin giảm xuống thì bệnh đái tháo đường týp 2 sẽ xuất hiện.

Nghiên cứu của Hoàng Trung Vinh (2008) cho thấy đặc điểm ĐTĐ týp 2 ở bệnh nhân tuổi cao là nồng độ insulin trung bình giảm, chỉ số kháng insulin tăng cao, chỉ số chức năng tiết insulin của tế bào bêta giảm rõ [63]. Rối loạn sự điều tiết Leptin, Resistin, Adiponectin. Yếu tố hoại tử bướu alpha, Interleukin – 6 và kháng insulin. Mô mỡ tiết ra Leptin là một hormone protein có tác dụng tác động lên các hoạt động của cơ thể như: tác động lên sự điều hòa thể trọng, chuyển hóa, chức năng sinh sản và nhiều tác dụng khác.

Đặc biệt là Leptin điều hòa nồng độ đường trong máu thông qua hai con đường là kiểm soát sự ngon miệng và tích trữ năng lượng, thông tin cho gan về sử dụng glucose dự trữ. Khi hai con đường trên bị phá vỡ sẽ dẫn đến bệnh ĐTĐ [18]. Khi khối mô mỡ tăng thì làm gia tăng Leptin cùng với sự chuyển hóa bù trừ cho bảo tồn sự nhạy cảm của insulin [117]. Resistin là hormone được tiết ra từ mô mỡ.

Trong quá trình biệt hóa mô mỡ thì nồng độ của Resistin sẽ tăng lên. Nồng độ của Resistin máu tăng lên ở người béo phì do chế độ ăn hoặc nguồn gốc di truyền. Giữa béo phì và đái tháo đường có mối liên kết của Resistin, đó chính là nguyên nhân dẫn đến đái tháo đường týp 2 [55]. Adiponectin là một hormone được tiết ra từ các tế bào mỡ của mô mỡ, có tác dụng chống xơ vữa động mạch và tăng độ nhạy của insulin.

Adiponectin cũng có tác dụng gây hạ đường huyết bằng cách giảm kháng insulin, Adiponectin không làm tăng cân và có tác dụng chống viêm nhờ tác động lên các tế bào nội mạc. Người béo phì và đề kháng insulin thường có nồng độ Adiponectin trong máu thấp [122]. Yếu tố hoại tử bướu alpha (Tumor Necrosis Factor alpha: TNFα) được tế bào mỡ tạo ra ảnh hưởng đường tín hiệu insulin. Interleukin – 6 (IL-6) do tế bào mỡ và tế bào miễn dịch sản xuất, tăng ở người béo phì và ĐTĐ týp 2.

Chất IL-6 kích thích trục dưới đồi – yên – thượng thận và làm tăng các axit béo tự do (FFAs). Cả hai đều gây kháng insulin [55]. Quá trình sinh bệnh đái tháo đường týp 2 Tình trạng kháng insulin cũng xảy ra ở những người béo phì. Giai đoạn sớm mức dung nạp glucose không thay đổi vì tụy tăng tiết insulin giữ cho glucose huyết tương không tăng [31].

Giảm dung nạp glucose là một trong các rối loạn sớm nhất của đái tháo đường týp 2 hay tiền đái tháo đường. Sự tiết insulin đạt đến đỉnh sẽ giảm nhạy cảm của tế bào bêta với glucose và sẽ giảm tiết insulin và ĐTĐ týp 2 sẽ xuất hiện [32], [99]. Chẩn đoán và phân loại đái tháo đường. Năm 1936, Himsworth đề nghị có hai loại bệnh đái tháo đường là đái tháo đường nhạy với insulin và đái tháo đường không nhạy với insulin, tiền thân do thiếu insulin.

Năm 1979, ADA đã chính thức công nhận đái tháo đường phụ thuộc insulin đồng nghĩa đái tháo đường týp 1 và đái tháo đường không phụ thuộc insulin đồng nghĩa đái tháo đường týp 2. Nhóm nghiên cứu ĐTĐ Quốc gia Mỹ và TCYTTG phát triển tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ bằng nghiệm pháp dung nạp glucose và được ADA cập nhật vào năm 1997 và được duyệt lại vào năm 2003 [112]. Trong những năm 1999, 2003, 2006, Ủy ban chuyên gia của Hội Đái tháo đường Mỹ, Hội Đái tháo đường Châu Âu đã cập nhật phân loại như sau: - Đái tháo đường týp 1 là có phá hủy tế bào bêta và thiếu insulin tuyệt đối, được chia làm hai thể theo nguyên nhân là do cơ chế tự miễn và do không tự miễn, không phụ thuộc kháng thể kháng bạch cầu ở người (Human Leucocyst Antigen: HLA). - Đái tháo đường týp 2 đặc trưng bởi kháng insulin, giảm tiết insulin, tăng sản xuất glucose từ gan và bất thường chuyển hóa mỡ.

Béo phì đặc biệt mỡ nội tạng hoặc béo phì trung tâm là phổ biến nhất trong ĐTĐ týp 2 [118]. - Các týp đặc hiệu khác như đái tháo đường do thiếu hụt chức năng tế bào bêta di truyền (MODY 1,2,3,4,5,6), do thiếu hụt hoạt động insulin do di truyền, do các bệnh tuyến tụy ngoại tiết, do các bệnh nội tiết như hội chứng đa nội tiết tự miễn, Cushing, u tế bào tiết glucagon, u tủy thượng thận, cường giáp, u tế bào tiết somatin, u vỏ thượng thận, đái tháo đường do thuốc hoặc hóa chất, do nhiễm trùng, hoặc các týp đái tháo đường do trung gian tự miễn như hội chứng Stiff – Man, Down, Klinerfelter, Turner, … - Đái tháo đường thai nghén là đái tháo đường phát hiện lần đầu lúc mang thai và sau khi sinh phần lớn glucose máu trở về bình thường, một số ít tiến triển thành đái tháo đường týp 2 [21]. Đái tháo đường thể LADA (Latent Autoimmune Diabetes in Adulthood) là đái tháo đường tự miễn nhưng xảy ra ở người lớn [32]. Gần đây, người ta khám phá ra não có sản xuất insulin.

Thiếu insulin và glucose trong máu cao là những yếu tố chính ảnh hưởng xấu đến chức năng của não, hậu quả là gia tăng nguy cơ bệnh Alzheimer’s và chứng mất trí. Tình trạng này được đề cập như đái tháo đường týp 3 [103].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Thực Trạng Bệnh Đái Tháo Đường & Tiền Đái Tháo Đường Ở Người Khmer Tỉnh Hậu Giang: Đánh Giá Hiệu Quả Can Thiệp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình bệnh đái tháo đường và tiền đái tháo đường trong cộng đồng người Khmer tại tỉnh Hậu Giang. Nghiên cứu không chỉ đánh giá tỷ lệ mắc bệnh mà còn phân tích hiệu quả của các can thiệp y tế nhằm cải thiện sức khỏe cộng đồng. Những thông tin này rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu, chuyên gia y tế và những người quan tâm đến sức khỏe cộng đồng, giúp họ hiểu rõ hơn về tình hình bệnh lý và các giải pháp can thiệp hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và can thiệp y tế, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Thực trạng mắc bệnh tay chân miệng ở trẻ 1-5 tuổi và hiệu quả can thiệp tỉnh Hậu Giang", nơi cung cấp thông tin về một bệnh lý khác cũng đang ảnh hưởng đến trẻ em trong khu vực. Ngoài ra, tài liệu "Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ 18-49 tuổi" sẽ giúp bạn hiểu thêm về các vấn đề sức khỏe sinh sản trong cộng đồng. Cuối cùng, tài liệu "Thực trạng cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và hiệu quả một số giải pháp can thiệp tại tuyến xã tỉnh Quảng Ninh" sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các can thiệp y tế trong cộng đồng.