Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình kinh tế tuần hoàn Chương 2: Thực trạng áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn tại Công ty TNHH Nhà Máy Bia HEINEKEN Việt Nam Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng kinh tế tuần hoàn CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE KINH TE TUẦN HOÀN 1. Tổng quan về kinh tế tuyến tính và kinh tế tuần hoàn 1. Kinh tế tuyến tính 1111. Khái niệm Theo M.DeCourcey (Tổ chức Phòng Thương mại Hoa Kỳ, 2016) chỉ ra rằng: “Kinh tế tuyến tính (KTTT) bắt đầu từ khai thác tài nguyên làm đầu vào cho hệ thông kinh tê, rôi đên sản xuât, phân phôi, tiêu dùng và cuôi cùng là thải bỏ”.
Nói cách khác, KTTT là sự biến đổi tài nguyên thành các chất thải. Các công ty khai thác nguyên liệu, sử dụng năng lượng và sức lao động để sản xuất một sản phẩm và bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Những người này sẽ loại bỏ các sản pham ra môi trường khi chúng không đáp ứng được nhu cau của họ cho dù những sản phẩm này van còn giá tri sử dụng. Điều này sẽ dẫn đến các van đề về suy giảm, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường v.
Mô hình kinh tế tuyến tính Nguồn: Dựa theo M. Han chế của kinh tế tuyến tinh Mặc dù KTTT là mô hình được áp dụng phổ biến tại nhiều quốc gia nhưng trong thời gian dai, mô hình tiêm ân nhiều tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tê - xã hội — môi trường, thê hiện trên các góc độ sau: Thứ nhất, KTTT gây nên sự suy giảm và lãng phí tài nguyên nghiêm trọng, đặc biệt là tài nguyên không thé tái tạo. Cụ thé, nền kinh tế toàn cầu đã tiêu thụ 65 tỷ tấn tài nguyên liệu thô vào năm 2010 và đạt 82 tỷ năm 2020, tăng 26. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do giá tài nguyên liên tục sụt giảm trong thế kỷ 20, thậm chí là giảm gần 50% so với giá trị của chúng trong giai đoạn 1999 - 2001 (McKinsey, 201 1).
Điều này khiến chi phí nguyên vật liệu thấp và các nhà 10 sản xuất ưu tiên sử dụng nguồn đầu vào này dé tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Việc tái sử dụng tài nguyên không cần thiết về mặt kinh tế do dé dàng kiếm được nguyên liệu đầu vào mới với chi phí thấp. Thay vào đó nếu tiến hành tái chế sẽ tốn thêm chi phi dé đầu tư, xây dựng hệ thống thu gom, xử lý. Mặt khác, do giá tài nguyên thấp nên doanh nghiệp không có động lực để giảm thiêu, tái chế, tái sử dụng nguôồn nguyên liệu này.
Tại Châu Âu vào năm 2010 có 2.7 tỷ tấn rác thải nhưng chỉ có khoảng 40% trong số đó được quay vòng lại quy trình sản xuất. Thứ hai, KTTT tạo ra những rủi ro về giá cả. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã nhận ra hệ thống kinh tế truyền thống này làm gia tăng rủi ro cho họ, đặc biệt là sự biến động của giá tài nguyên cũng như là sự gián đoạn nguồn cung. Giá tài nguyên cao hơn có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng bằng cách gia tăng không chắc chăn, không khuyến khích các nhà kinh doanh đầu tư và tăng chi phí phòng ngừa rủi ro liên quan đến tài nguyên.
Dựa trên báo cáo năm 2013 của Quỹ Ellen MacArthur Foundation (EME) ta thấy những thập kỷ gần đây đã chứng kiến sự biến động giá đôi với kim loại và sản phâm nông nghiệp cao hơn so với bat kỳ thập kỷ nào của thế kỷ 20. Sự biến động của giá tài nguyên 100 90 80 70 60 50 40 30 20 10 0 1910 1920 1930 1940 1950 1960 1970 1980 1990 2000 2011 —=Thuc phim —Kimloai ==®=Sản phẩm nông nghiệp Nguồn: Dựa theo báo cáo cua EMF, 2013 Thứ ba, KTTT làm gia tăng lượng chất thải. Nguyên nhân chính dẫn đến hiện trạng này là việc loại bỏ sản phẩm ra môi trường khi không còn đáp ứng nhu 11 cầu tiêu dùng. Năm 2014, lượng rác thải nhựa thải ra biển là 311 triệu tấn.
Con số này được dự báo tăng lên 1124 triệu tấn vào năm 2050, tức là tăng gấp 3. Thứ tư, nền kinh tế đang đối mặt với những thách thức khác như rủi ro của chuỗi cung ứng, chiến tranh thương mại, sự xuất hiện của các thị trường phi quy định v. Chính vì những lí do trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cho sự chuyển đổi KT TT sang KTTH. Kinh tế tuần hoàn 112.
Khái niệm KTTH không phải là một khái niệm mới, những ý tưởng đầu tiên về KTTH đã xuất hiện trong nông nghiệp từ thé ky 18, tới nay có hơn 114 cách hiểu về KTTH được đưa ra (Kirchherr, Reike và Hekkert, 2017). Định nghĩa về KTTH được biết đến rộng rãi nhất do Quỹ Ellen MacArthur Foundation đưa ra tại Hội nghị Kinh tế toàn cầu năm 2012 là: “KTTH là một hệ thống có tính khôi phục và tái tạo thông qua các kế hoạch và thiết kế chủ động. Nó thay thế khái niệm “kết thúc vòng đời” của vật liệu bằng khái niệm khôi phục, chuyền dịch theo hướng sử dụng năng lượng tái tạo, loại bỏ việc dùng các hóa chất độc hại gây ton hại tới việc tái sử dụng và hướng tới giảm thiêu chat thải thông qua việc thiết kế vật liệu, sản phâm, hệ thống kỹ thuật và ca các mô hình kinh doanh trong phạm vi của hệ thống đó.” Về bản chất của KTTH là tối ưu hóa giá trị sử dụng của tài nguyên bằng cách tuần hoàn các sản phẩm và vật liệu nhiều nhất có thể trong các chu trình sản xuất. Nói cách khác, mô hình KTTH chú trọng việc quản lý và tái tạo tài nguyên theo một vòng khép kín nhằm tránh tạo ra phế thải Tại Việt Nam, khái niệm KTTH lần đầu được luật hóa trong Luật Bảo vệ Môi trường (Luật số 72/2020/QH14 Bảo vệ môi trường 2020) được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2020 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2022) tại Khoản 1, điều 142: “KTTH là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường” KTTH khác biệt so với KT TT ở việc nôi diém dau và diém cuôi của quá trình, thậm chí khôi phục và tái tạo các vật chat ở moi công đoạn đê kéo dài vòng đời của vật chất.
Trong nên KTTT, giá trị được tạo ra bằng cách tối đa hóa số lượng 12 sản phẩm được sản xuất và bán. Ngược lại, trong nền KTTH giá tri được tao ra bang cách tập trung vào việc giữ giá trị sản phẩm lâu nhất, dé sửa chữa, dé tái chế bằng thiết kế sản xuất ban đầu. Mô hình kinh tế tuần hoàn Nguồn: Dựa theo M. Lợi ích của kinh tế tuân hoàn Hiện nay, KTTH được áp dụng, triển khai tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Mô hình này tạo ra những tác động tích cực tới việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững, thê hiện trên các góc độ sau: Trước hệt, KTTH giúp giải quyêt các vân đê 6 nhiễm môi trường băng cách giảm khai thác tài nguyên, hạn chê rác thải ở môi giai đoạn của chuôi giá tri, tuân hoàn nguyên vật liệu, năng lượng qua nhiều chu trình,. Ngoài ra, KTTH làm giảm áp lực về việc khai thác và sử dụng tài nguyên để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của con người. Cụ thể, KTTH có thê tiết kiệm lên đến 70% lượng tài nguyên cần sử dụng so với mô hình KTTT (EMF, 2014) và tỷ lệ này có thê tăng nữa nếu có những giải pháp phù hợp. Nguyên nhân là do hoạt động tái chế, tái sử dụng đã giúp kéo dài vòng đời sản phẩm, từ đó làm giảm nhu cầu khai thác tài nguyên dé làm nguyên liệu đầu vào.
Mặt khác, KTTH có khả năng thúc đây tăng trưởng kinh tế. Một nguyên tắc quan trọng của nền KTTH phát triển kinh tế không phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu thô, nhờ đó mà nên kinh tế không bị gián đoạn với tình trang tài nguyên 13 ngày một khan hiểm. Những thay đồi đầu vào và dau ra của các hoạt động sản xuất kinh tế ảnh hưởng đến cung cầu và giá cả hàng hóa ở mọi lĩnh vực, dẫn đến một loạt các tác động gián tiếp tới sự tăng trưởng chung. Trong quá trình phát triển KTTH, Châu Âu được dự báo sẽ tăng trưởng GDP lên tới 11% vào năm 2030 và 27% vào năm 2050 so với kịch bản hiện tại là 4% và 15% (EMF va McKinsey & Co, 2015).
Tiếp nữa, sự phát triển của KTTH mang lại tác động tích cực cho thị trường lao động. Nhiều ngành nghề mới ra đời như dịch vụ môi trường, quản lý chất thải. tạo ra các cơ hội việc làm. Theo đánh giá của Ủy ban Châu Âu, chỉ riêng lĩnh vực quản lý chất thải có thể tạo ra 178.000 việc làm mới vào năm 2030.
Hay như một nghiên cứu được thực hiện tại Đan Mạch đã chỉ ra rằng việc chuyên đôi mô hình kinh tế có thể tạo ra khoảng 7300 — 13300 việc làm vào năm 2035, tăng 0.6% so với kịch bản phát triển như bình thường (EME, 2015). Cuối cùng, KTTH tao ra lợi ích cho việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ với chi phí thấp do sử dụng sản phẩm bền hơn. Tóm lại, KTTH không chỉ khắc phục những tác động tiêu cực của KTTT mà còn mở ra nhiều cơ hội cho sự phát triển bền vững. Chính vì vậy, việc chuyển đối mô hình là điều tất yếu.
Nguyên tắc của kinh tế tuần hoàn KTTH vận hành dựa trên các nguyên tắc như sau: Bảng 1. Các nguyên tắc của kinh tế tuần hoàn Nguyên tắc Nội dung Thiết kế và tiêu dùng | Chat thải không tồn tại khi mà những thành phan sinh theo hướng cắt giảm, tái | học và hóa học của sản phẩm vẫn có thê tuần hoàn lại sử dụng và tái chế trong một chu trình mới. Giai đoạn thiết kế cần chú ý đến tuổi thọ sản phẩm, đặc tính dễ tái sử dụng và tái chê. 14 Xây dựng khả năng | Các hệ thống sinh thái với nhiều kết nối và quy mô có phục hồi thông qua sự | khả năng phục hồi tốt hơn so với các hệ thong duoc da dang xây dựng đơn giản khi đối mặt với các cú sốc ngoại cảnh.
Do đó cần thiết lập một phương pháp tổ chức công nghiệp đặc trưng bởi sự quản lý tối ưu các nguồn dự trữ và nguôn nguyên liệu, năng lượng Sử dụng nguồn năng | Nguồn năng lượng tái tạo (như năng lượng gió, năng lượng tái tạo lượng mặt trời.