lời mở đầu, nội dung chính và kết luận. Phần nội dung chính tác giả bố cục thành ba chương theo hướng đi từ những vấn đề chung mang tính khái quát đến những vấn đề cụ thể hơn. Chi tiết ba chương như sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về thực thi pháp luật về đăng ký kinh doanh 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2: Thực thi pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn Thành phố Hà Nội; Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực thi pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH 1.
Khái quát về đăng ký kinh doanh 1. Khái niệm, đặc điểm của đăng ký kinh doanh 1. Khái niệm kinh doanh “Kinh doanh” (tiếng Anh là business) xuất hiện từ khá sớm trong xã hội loài người cùng với sự hình thành và phát triển của thương nhân, phường hội buôn bán. Cho đến nay khái niệm kinh doanh có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo từng góc độ tiếp cận.
Về mặt từ ngữ, từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên [15] đã giải thích thuật ngữ “kinh doanh” theo hai nghĩa: thứ nhất “kinh doanh có nghĩa là mở mang thêm”, và nghĩa thứ hai “tổ chức sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời”. Dưới góp độ pháp lý: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (16; Điều 4) Hành vi kinh doanh có các dấu hiệu như sau: Hành vi phải mang tính chất nghề nghiệp. Tính chất nghề nghiệp được thể hiện ở các đặc điểm chủ thể thực hiện hành vi khi tham gia thương trường theo sự phân công lao động xã hội; các hành vi được tiến hành thường xuyên, ổn định, đều đặn; có tính chất chuyên nghiệp cao và mang lại nguồn thu nhập chính cho người thực hiện hành vi; Hành vi phải thực hiện một cách độc lập. Các chủ thể nhân danh chính mình để tiến hành hoạt động kinh doanh, tự quyết định và chịu trách nhiệm trước mọi vấn đề liên quan.
Hành vi có mục đích sinh lợi. Bên cạnh đó có cách hiểu kinh doanh là để kiếm tiền theo một nghĩa rộng hơn. Ví như kinh doanh để mang lại lợi ích cho cộng đồng (hay kinh doanh xã hội). 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đăng ký kinh doanh và hậu quả pháp lý của đăng ký kinh doanh Để thực hiện hoạt động kinh doanh trên thị trường, chủ thể phải tiến hành hoạt động ĐKKD với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. ĐKKD là thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp, theo đó có thể nhìn nhận dưới các góc độ sau: Về phương diện kinh tế-xã hội: ĐKKD là thủ tục đầu tiên của doanh nghiệp phải thực hiện để tham gia vào thị trường, trong hoạt động ĐKKD, việc thành lập doanh nghiệp và các lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp được thông tin rộng rãi, công khai trên thị trường, bên ngoài xã hội nhằm thu hút sự chú ý của cộng đồng doanh nghiệp (các đối tác tương lai) và cộng đồng xã hội (các bên có liên quan). Vì vậy, tuy trong giai đoạn tiến hành thủ tục ĐKKD, doanh nghiệp chưa thực sự có, song chi phí trong quá trình ĐKKD thành lập doanh nghiệp vẫn được tính vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp và được khấu trừ trong khi tính thuế. Về phương diện pháp lý: ĐKKD là một thủ tục pháp lý mang tính hành chính- tư pháp để xác nhận địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh trên thị trường.
Theo đó nhà đầu tư phải khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về dự kiến hoạt động của mình và được Nhà nước thừa nhận bằng việc cấp GCN ĐKKD. Nói cách khác đây là thủ tục khai sinh cho doanh nghiệp và đưa doanh nghiệp đến với thương trường một cách hợp pháp. Tùy theo luật pháp các quốc gia mà ĐKKD được giao cho cơ quan hành chính hay cơ quan tư pháp. Ở Việt Nam, ĐKKD được giao cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chuyên môn là Sở KH&ĐT.
Như vậy, ĐKKD được hiểu là hoạt động pháp lý bao gồm hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ĐKKD và của chủ thể kinh doanh. Theo đó, chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh phải khai báo theo đúng quy định của pháp luật với các nội dung cụ thể, còn cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành ghi tên vào sổ ĐKKD đồng thời cấp cho chủ thể ĐKKD GCN ĐKDN. GCN ĐKDN là bằng chứng pháp lý chứng minh chủ thể kinh doanh tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách hợp pháp, được nhà nước công nhận và bảo hộ. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về phương diện QLNN: một trong những thủ tục hành chính bắt buộc mà doanh nghiệp và thương nhân phải hoàn tất trước yêu cầu của nhà nước, nhằm quản lý các công việc kinh doanh.
Bất cứ hình thức kinh doanh nào chỉ được xem là hợp pháp trong nước nếu có GCN ĐKKD. Nói cách khác, ĐKKD được coi là một trong những biện pháp QLNN về kinh tế. ĐKKD là hoạt động quản lý đầu tiên của nhà nước đối với doanh nghiệp, nó sẽ tạo điều kiện để để Nhà nước có thể thực hiện các hoạt động quản lý tiếp theo của mình khi doanh nghiệp đi vào sản xuất, kinh doanh. Về phương diện chính trị-pháp lý: ĐKKD được hiểu là quyền tự do kinh doanh, một bộ phận của quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Tuy nhiên quyền này phải được hiểu là tự do trong khuôn khổ, dân chủ tập trung và bình đẳng trước pháp luật. Quyền ĐKKD cũng đồng thời là nghĩa vụ phải thực hiện. Quyền tự do kinh doanh của công dân có nội hàm bao gồm cả quyền tự do lựa chọn ngành nghề, hình thức kinh doanh và tự do ĐKKD. Bất cứ tổ chức nào có đủ điều kiện để kinh doanh đều có thể đăng ký với nhà nước để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà không ai có quyền ngăn cản trái phép.
Theo góc nhìn của pháp luật doanh nghiệp, ĐKDN được hiểu là việc ghi nhận về mặt pháp lý sự ra đời và cập nhập những thay đổi pháp lý trong suốt vòng đời của doanh nghiệp. ĐKKD bao gồm nội dung về ĐKKD và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp. ĐKKD bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung ĐKKD [7; Khoản 1, Điều 3]. Khái niệm ĐKDN nêu trên chỉ đề cập đến việc đăng ký của các loại hình doanh nghiệp (vốn trong nước) được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005.
Không đề cập đến việc ĐKDN có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật Đầu tư, các loại hình doanh nghiệp khác thành lập và hoạt động theo các Luật chuyên ngành khác nhau (doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất, tổ chức tài chính tín dụng, chứng khoán, bảo hiểm.) Hậu quả pháp lý của ĐKKD: có hai hậu quả pháp lý đối với hành vi ĐKKD là: Doanh nghiệp được cấp GCN ĐKKD: Để được cấp GCN ĐKKD, doanh 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau đây: - Ngành, nghề ĐKKD không bị cấm đầu tư kinh doanh; - Tên của doanh nghiệp được đặt theo đúng quy định của pháp luật; - Có hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hợp lệ theo quy định; - Nộp đủ lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo quy định pháp luật về phí và lệ phí; Doanh nghiệp không được cấp GCN ĐKKD: nếu không thỏa mãn một trong những điều kiện ở trên. Phân biệt Đăng ký kinh doanh với Đăng ký doanh nghiệp Thuật ngữ ĐKKD được sử dụng phổ biến trước đây nhưng đã có điều chỉnh qua những chặng đường phát triển của quản lý nhà nước về ĐKKD. Trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, thuật ngữ ĐKKD được sử dụng. Sau đó, từ Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, Nghị định 102/2010/NĐ- CP hướng dẫn Luật doanh nghiệp thuật ngữ này chuyển thành đăng ký doanh nghiệp và sau này là Luật Doanh nghiệp năm 2014 cùng văn bản hướng dẫn của nó là Nghị định số 78/2015/NĐCP cũng đã thống nhất sử dụng thuật ngữ đăng ký doanh nghiệp.
Về bản chất, hai thuật ngữ này được sử dụng giống nhau là thủ tục đăng ký khai sinh ra doanh nghiệp, điều chỉnh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhưng xét trên phương diện câu chữ, nó lại có sự khác nhau trên một số phương diện như: ĐKKD đề cập đến mục đích hoạt động quản lý nhà nước, ĐKDN hướng đến hậu quả pháp lý một cách trực tiếp là doanh nghiệp. Việc ĐKKD là do CQNN trao cho chủ thể quyền cũng như giao phó nghĩa vụ theo quy định. Theo tác giả, nhà làm luật sử dụng thuật ngữ đăng ký doanh nghiệp nhằm tạo một cách hiểu trực tiếp và phản ánh bản chất của hoạt động này.3 Đặc điểm của đăng ký kinh doanh Thứ nhất, ĐKKD là một trong những dịch vụ hành chính công do cơ quan QLNN (được nêu cụ thể tại mục 1.2) trực tiếp thực hiện. Thứ hai, theo quy định trong Luật Doanh nghiệp ĐKKD cũng là thủ tục đầu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiên để tiến hành hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp.
Thứ ba, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi đăng ký gia nhập thị trường đều phải thực hiện theo một khung pháp lý chung gồm các TTHC sau: 1) ĐKKD, 2) Đăng ký mã số thuế (nay đã gộp vào một) và 3) Đăng ký giấy phép khắc dấu (nay là công bố mẫu con dấu). Hiện nay, theo quy định pháp luật hiện hành đã có sự điều chỉnh và sẽ đề cập cụ thể ở phần sau. Thứ tư, để thành lập 1 trong 4 loại hình doanh nghiệp (công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh) thì nhà đầu tư sẽ thực hiện thủ tục ĐKDN với cơ quan ĐKKD cấp tỉnh nơi doanh nghiệp dự định đặt trụ sở chính. Đối tƣợng đăng ký kinh doanh Đối tượng của ĐKKD theo Luật Doanh nghiệp gồm có (1) Doanh nghiệp tư nhân; (2) Công ty cổ phần; (3) Công ty hợp danh; (4) Công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm công ty TNNH một thành viên và công ty TNNH hai thành viên trở lên) 1.
Hình thức, quy trình đăng ký kinh doanh a.