Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số. Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên. Chương 3: Giải pháp tăng cường thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.
Khái quát về chính sách đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức cấp xã ngƣời dân tộc thiểu số 1. Cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số 1. Khái nhiệm * Khái niệm cán bộ: Cuốn Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, năm 2006) [34], định nghĩa cán bộ là: “Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể có chức vụ”. Tức là, trong các tổ chức đảng và đoàn thể, cán bộ là thuật ngữ dùng để chỉ những người giữ chức vụ lãnh đạo, làm công tác chuyên trách, hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Theo Điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2008 quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. * Khái niệm công chức Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau ở các quốc gia trên thế giới. Do tính đặc thù riêng biệt về lịch sử phát triển, văn hóa, chế độ chính trị nên mỗi quốc gia có những quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức. Có những nước coi công chức là những người làm việc trong bộ máy nhà nước (bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp hay các lực lượng vũ trang, công an).
Trong khi đó có những nước lại chỉ giới hạn những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước hay hẹp hơn nữa là trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước. 10 Ở Trung Quốc, đất nước theo chế độ Cộng hòa dân chủ nhân dân quan niệm “công chức nhà nước là những người công tác trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ”. Công chức được chia thành hai loại: Một là, công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực hành chính nhà nước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức chính quyền các cấp. Hai là, công chức nghiệp vụ, là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào điều lệ công chức, họ chiếm tuyệt đại đa số công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành chính sách và pháp luật Nhà nước [29, Tr 268].
Ở Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm công chức cũng đã có nhiều lần thay đổi. Sự hình thành khái niệm công chức được gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước. Khái niệm “công chức” bắt đầu xuất hiện tại Điều 1, Quy chế công chức Việt Nam ban hành theo Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định về công chức, cụ thể như sau: công chức là “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính Phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.
Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, cả nước phải tập trung vào cuộc kháng chiến dành độc lập dân tộc, vì vậy, một thời gian dài ở Việt Nam không sử dụng khái niệm “công chức” mà thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước chung chung, không phân biệt công chức và viên chức. Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu cầu khách quan cần cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ công chức nhà nước, khái niệm “công chức” được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong công sở Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được thu xếp vào một ngạch hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức”. 11 Ngày 26/2/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh CBCC. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý và xây dựng đội ngũ CBCC.
Do yêu cầu thực tiễn, ngày 29/4/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh CBCC, trong đó làm rõ đối tượng điều chỉnh CBCC hành chính, sự nghiệp, bổ sung cán bộ chuyên trách ở xã, phường, thị trấn vào phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh, đồng thời, xây dựng chế độ công chức dự bị trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị xã hội. Ngày 13/11/2008, Quốc hội khóa XII đã ban hành Luật CBCC (có hiệu lực từ ngày 01/01/2010), đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay định nghĩa rõ ràng, đầy đủ về khái niệm công chức. Tại khoản 2, Điều 4 Luật CBCC xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. * Khái niệm cán bộ cấp xã: Theo khoản 3, điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”.
Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức bao gồm cán bộ cấp xã và công chức cấp xã. Cán bộ cấp xã gồm có các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; 12 Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. * Khái niệm công chức cấp xã: Theo khoản 3, điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ NSNN”. Công chức cấp xã gồm các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng - Đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội.
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. * Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số “Dân tộc thiểu số” là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực, ngành khoa học khác nhau trên thế giới. Đáng chú ý, năm 1992, Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) đã thông qua thuật ngữ “dân tộc thiểu số” trên cơ sở dựa vào quan điểm của Gs. Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này; (b).
13 Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; (c).Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ; (d). Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; (e). Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ". Ở Việt Nam, khái niệm DTTS được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động thực tiễn.
Tại Khoản 2, Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc có quy định: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ở nước ta có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống thì ngoài dân tộc kinh, các dân tộc còn lại đều được coi là dân dân tộc thiểu số.