CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 1. Các khái niệm cơ bản về chất lượng và chất lượng đào tạo. Khái niệm về chất lượng. Chất lượng là một khái niệm động và đa chiều được nhiều tài liệu đề cập đến tuỳ theo cách tiếp cận, trong từng lĩnh vực hoạt động mà chất lượng được kỳ vọng một cách khác nhau và được hiểu và diễn tả cũng khác nhau.
Theo từ điển tiếng việt: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, một sự vật, một hiện tượng, một sự việc”[13,144]. Theo quan điểm của Joerg E. Feuchthofen: “Chất lượng là sự tin tưởng của khách hàng, là đảm bảo đúng quy chuẩn khi sử dụng, những đặc điểm của sản phẩm đáp ứng được sự mong muốn của khách hàng”.Grosby: “Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định”. Theo tiêu chuẩn của Cộng hòa Pháp NFX-50: “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng”.
Theo tiêu chuẩn Việt Nam 8402: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”. Theo quan điểm triết học: “Chất lượng là sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích luỹ về lượng (quá trình tích luỹ biến đổi) tạo nên những bước nhảy vọt về chất của sự vật hiện tượng. Trong đó chất được hiểu là thuộc tính, tính chất của sự vật, hiện tượng làm cho, hiện tượng đó khác với các sự vật, hiện tượng khác”. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh chất lượng sản phẩm được đặc trưng bởi các yếu tố về nguyên vật liệu, qui trình công nghệ sản xuất, các đặc tính về sử dụng, mẫu mã, thị hiếu và nhu cầu đáp ứng cho người tiêu dùng.
Theo tiêu chuẩn ISO: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, một hệ thống hay một quá trình để dáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. 15 Theo định nghĩa ISO 9001 – 2000: “Chất lượng là mức độ đáp ứng yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có, trong đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc”. Khái niệm nghề Theo UNESCO, nghề là những công việc trí óc hoặc tay chân mà người lao động có thể thực hiện để kiếm sống. Người lao động có thể tự sử dụng mình hoặc được người khác sử dụng trong khi hành nghề.
Khái niệm dạy nghề và đào tạo nghề - Dạy nghề là quá trình truyền đạt những tri thức, kỹ năng từ người này sang người khác để làm ra một sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được nhu cầu của xã hội. - Đào tạo nghề là quá trình truyền đạt những tri thức, kỹ năng từ người này sang người khác để người đó trở thành người có năng lực của một nghề theo những tiêu chuẩn nhất định. - Cả dạy nghề và đào tạo nghề đều là những hình thái cụ thể và bộ phận của giáo dục nghề nghiệp. Chất lượng đào tạo, chất lượng đào tạo nghề.
Chất lượng đào tạo có 2 phần: + Phần cứng: Là bộ ba kiến thức, kỹ năng, thái độ người học tiếp thu trong quá trình đào tạo (chiếm 20-40% giá trị) + Phần mềm: Là năng lực sáng tạo, thích ứng (chiếm khoảng 60-80% giá trị) Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các nghành nghề cụ thể. Chất lượng đào tạo thể hiện chủ yếu và tập trung nhất ở chất lượng của sản phẩm đào tạo. Chất lượng đó là trình độ hiện thực hoá hay trình độ đạt được của mục tiêu đào tạo, thể hiện ở trình độ phát triển nhân cách của học sinh sau khi kết thúc quá trình đào tạo. 16 Chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng các công nhân kỹ thuật được đào tạo trong hệ thống GDNN (Giáo dụng nghề nghiệp) theo mục tiêu và chương trình đào tạo được xác định trong các lĩnh vực nghành nghề khác nhau, đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động.
Chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là “con người” có thể hiểu là đầu ra của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệ thống ĐT. Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả đào tạo của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định về cơ sở vật chất, độ ngũ giáo viên, mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỉ lệ có việc làm sau khi tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc cụ thể tại các doanh nghiệp, cơ quan, các tổ chức xã hội… và khả năng phát triển nghề nghiệp… Chất lượng đào tạo là một khái niệm phức tạp để dễ hiểu nó cần có một cái nhìn tổng thể. Trong lĩnh vực đào tạo gồm có các yếu tố đầu vào (học sinh, giáo viên, trang thiết bị cơ sở vật chất) quá trình đào tạo (quá trình dạy và học, môi trường đào tạo, môi trường sư phạm), yếu tố đầu ra (sự hình thành và phát triển nhân cách, kiến thức kỹ năng, kỹ sảo và tri thức mà học sinh nhận được trong quá trình đào tạo) vì vậy chất lượng đào tạo bao gồm chất lượng đầu vào, chất lượng quá trình đào tạo và chất lượng đầu ra. Xét theo quan niệm chất lượng chứa cả hai yếu tố là sự chuẩn mực và sự hoàn hảo, thì chất lượng giáo dục được đo bằng mức học sinh đạt chuẩn.
Đó không chỉ là việc học sinh đạt các mục tiêu cụ thể do các khoá học đặt ra mà còn khả năng tự chủ, năng lực tham gia vào các cuộc thảo luận, đưa ra các ý kiến đánh giá và có được nhận thức về cách suy nghĩ và hành động. Sự tuyệt hảo ở đây liên quan đến các khái niệm hay nói đến khía cạnh đạo đức và thẩm mỹ và nhân cách của học sinh. Theo tác giả chất lượng đào tạo dù được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng đều thống nhất với nhau ở một điểm: chất lượng đào tạo được đo bằng các 17 chuẩn nhằm xem xét mức độ đạt được các nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo, thể hiện ở kết quả phát triển nhân cách của người học như thế nào. Các chuẩn này phải phù hợp giữa nhà trường và xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân học sinh và yêu cầu của xã hội.
Do vậy có thể hiểu chất lượng đào tạo là tập hợp các điều kiện được thể hiện bằng các chuẩn phù hợp với mục tiêu đào tạo đã đề ra và đồng thời phải phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Quản lý chất lượng dạy nghề. Thay vì tìm hiểu khách hàng của giáo dục là ai và yêu cầu họ làm gì thì nhiệm vụ đặt ra mục tiêu chính cho cơ sở dạy nghề, để giải quyết được vấn đề đó thì phải trả lời được câu hỏi là khách hàng cần gì, và cơ sở dạy nghề phải đảm bảo chất lượng chính chất lượng đào tạo của mình. Đảm bảo chất lượng không phải là để cụ thể hoá các tiêu chuẩn đo lường chất lượng, đảm bảo chất lượng là nhằm đảm bảo rằng có các cơ chế, quy trình và quá trình được sắp xếp để đảm bảo chất lượng.
Cũng cần nhấn mạnh rằng đảm bảo chất lượng là nói về công tác quản lý tốt, nó là một cách tiếp cận hệ thống về những việc làm đúng với phương pháp đúng và kiến cho chúng trở nên đúng đắn. Thoả mãn khách hàng của một cơ sở đào tạo nghề là một đánh giá chất lượng dựa trên cấp độ thoả mãn của học sinh, về thực chất nó là mức độ sản phẩm phù hợp với mong đợi. Quản lý chất lượng là tập hợp các hoạt động nhằm xây dựng các chính sách về chất lượng, thực hiện các chính sách này như: - Lập kế hoạch. - Kiểm tra đánh giá.
- Đảm bảo, nâng cao chất lượng trong khuân khổ hệ thống tiêu chuẩn cho phép. Quản lý chất lượng là các hoạt động xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng và duy trì các cơ chế kiểm soát, đảm bảo chất lượng sản phẩm theo các tiêu chuẩn chất lượng đã ban hành. 18 * Quản lý chất lượng có 3 cấp độ: Kiểm soát chất lượng; Đảm bảo chất lượng; Quản lý chất lượng tổng thể. + Kiểm soát chất lượng: Kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thoả mãn các tiêu chuẩn đề ra trước đó.
Nó là công đoạn xảy ra sau cùng khi sản phẩm đã được làm xong có lien quan tới công việc loại bỏ hoạc từ chối những hạng mục hay sản phẩm lỗi, việc này thường kéo theo lãng phí tương đối lớn vì phải loại bỏ hay làm lại các sản phẩm không đạt yêu cầu. Kiểm soát chất lượng là một quá trình mà trong đó một sản phẩm hay dịch vụ hoặc bất cứ bộ phận nào trong quá trình có liên quan đến việc sản xuất hay vận chuyển sản phẩm, được kiểm tra theo một tiêu chuẩn đã định trước và sẽ bị loại bỏ hay làm lại nếu như một quá trình như việc loại bỏ sản phẩm có khiếm khuyết. + Đảm bảo chất lượng: Đảm bảo chất lượng là công tác làm trước và trong khi thực hiện quá trình nhằm phòng ngừa những sai lầm có thể xảy ra ngay từ đầu. Chất lượng sản phẩm được xác định ngay trong quá trình sản xuất, theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhằm đảm bảo không có bất cứ sai phạm nào.
Đảm bảo chất lượng là trách nhiệm của người lao động trực tiếp nhiều hơn là trách nhiệm của thanh tra viên.