phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo luận văn đƣợc bố cục gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công tác phát triển nguồn nhân lực trong các cơ quan nhà nƣớc. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực tại Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn. Chƣơng 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phát triển nguồn nhân lực tại Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC 1.
Công chức trong các cơ quan nhà nƣớc 1. Khái niệm về công chức trong các cơ quan nhà nước Công chức là một khái niệm đƣợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân đƣợc tuyển dụng vào làm việc thƣờng xuyên trong các cơ quan nhà nƣớc, do ngân sách nhà nƣớc trả lƣơng. Nhƣng do tính đặc thù của từng quốc gia nên quan niệm công chức ở các nƣớc không hoàn toàn đồng nhất. Có quốc gia chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những ngƣời tham gia hoạt động quản lý nhà nƣớc.
Một số nƣớc khác có quan niệm rộng hơn, công chức bao gồm tất cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan, tổ chức có tính chất công quyền. Ở Việt Nam, khái niệm “Công chức” có từ lâu. Nhƣng chỉ đến năm 1950, sau 05 năm đất nƣớc ta giành độc lập thì khái niệm đó mới xuất hiện trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nƣớc. Văn bản đầu tiên là Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định quy chế công chức Việt Nam.
Điều 1 của Sắc lệnh ghi: “Những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong nƣớc hay ở nƣớc ngoài đều là công chức theo quy chế này, trừ trƣờng hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Trải qua diễn biến phát triển của đất nƣớc, các khái niệm trên cũng có nhiều cách gọi, đƣợc thể hiện dƣới nhiều thể loại văn bản khác nhau. Cuối những năm 80 khái niệm “Cán bộ công chức” đƣợc gọi chung là “cán bộ công nhân viên chức nhà nƣớc”. Khái niệm này đƣợc gọi chung cho tất cả những ngƣời làm việc cho Nhà nƣớc, không có sự phân biệt rõ ràng.
Đội ngũ này 7 đƣợc hình thành từ nhiều con đƣờng, có thể do bầu cử, có thể do phân công sau khi tốt nghiệp các trƣờng chuyên nghiệp, có thể do tuyển dụng, bổ nhiệm… Đến thời kỳ đổi mới (sau năm 1986), trƣớc yêu cầu khách quan cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ CBCC nhà nƣớc, khái niệm công chức đƣợc sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Chính phủ. Nghị định nêu rõ: “Công dân Việt nam đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở của nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc, đã đƣợc xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc cấp gọi là công chức nhà nƣớc”. Pháp lệnh CBCC số 01/1998/PL-UBTVQH10 ngày 26 tháng 02 năm 1998, là văn bản pháp lý cao nhất của nƣớc ta về CBCC. Dƣới Pháp lệnh là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.
Nghị định đã cụ thể hóa khái niệm công chức “là công dân Việt Nam, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, bao gồm những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thƣờng xuyên, đƣợc phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, đƣợc xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những ngƣời làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng”. Đến tháng 11/2008, Quốc hội đã ban hành Luật CBCC. Tại khoản 2 điều 4 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng 8 Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, Luật số 52/2019/QH14 bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và Luật Viên chức số 58/2010/QH12.
Sủa đổi bổ sung Khoản 2 điều 4 nhƣ sau: Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nnhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tƣơng ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Nhƣ vậy, công chức quy định tại khoản 2, điều 4 Luật CBCC bao gồm: - Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội. - Công chức trong cơ quan nhà nƣớc. - Công chức trong bộ máy lao động, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập.
Công chức trong các cơ quan nhà nƣớc là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan nhà nƣớc, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Phân loại công chức trong các cơ quan nhà nước nói chung và ngành thống kê nói riêng Công chức thƣờng đƣợc phân loại căn cứ vào ngạch đƣợc bổ nhiệm hoặc vị trí công tác. Theo quy định tại Điều 34 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức đƣợc phân loại theo 02 căn cứ: Căn cứ vào ngạch đƣợc bổ nhiệm công chức phân loại nhƣ sau: 9 + Công chức loại A gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp. + Công chức loại B gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính.
+ Công chức loại C gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên + Công chức loại D gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch nhân viên Căn cứ vào vị trí công tác công chức đƣợc phân loại nhƣ sau: + Công chức lãnh đạo, quản lý + Công chức chuyên môn nghiệp vụ Đối với ngành thống kê thì căn cứ quyết định số 03/2008/QĐ-BNV ngày 12/11/2008 của Bộ nội vụ ban hành chức danh, mã số tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành thống kê và thông tƣ Liên tịch số 03/2009/TTLT-BNV-BKH&ĐT ngày 24/6/2009 của Bộ nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ về việc hƣớng dẫn thực hiện, công chức gồm: + Thống kê viên cao cấp (mã ngạch 23261) + Thống kê viên chính (mã ngạch 23262) + Thống kê viên (mã ngạch 23263) + Thống kê viên trình độ cao đẳng (mã ngạch 23264) + Thống kê viên trung cấp (mã ngạch 23265) 1. Phát triển đội ngũ nhân lực trong các cơ quan nhà nƣớc 1. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực trong các cơ quan nhà nước Phát triển nguồn nhân lực là khái niệm trừu tƣợng, đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu. Theo nghiên cứu của Nadler (1984) cho rằng phát triển nguồn nhân lực và giáo dục đào tạo là những thuật ngữ có cùng nội hàm.
Hai tác giả này định nghĩa: “Phát triển nguồn nhân lực là làm tăng kinh nghiệm học đƣợc trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc”. 10 Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng nhƣ thoả mãn nghề nghiệp và nguồn nhân lực”. Đứng trên quan điểm xem “con ngƣời là nguồn vốn - vốn nhân lực”, Yoshihara Kunio cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tƣ nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lƣợng và chất lƣợng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nƣớc, đồng thời đảm bảo sự phát triển của nguồn nhân lực”. Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) cho rằng: “Phát triển nhân lực là sự biến đổi nhân lực phù hợp về số lƣợng, về cơ cấu và nâng cao chất lƣợng nhân lực, đảm bảo tăng trƣởng và phát triển nguồn nhân lực”.
Như vậy, phát triển đội ngũ nhân lực công chức trong các cơ quan nhà nước thực chất là quá trình tạo ra sự biến đổi phù hợp về số lượng, về cơ cấu và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, được thực hiện thông qua các chức năng của công tác quản lý nhân sự với mục đích tạo ra đội ngũ công chức phù hợp với nhu cầu, định hướng và mục tiêu phát triển của các cơ quan nhà nước nói riêng và của đất nước nói chung trong từng thời kỳ. Nội dung phát triển nhân lực trong các cơ quan nhà nước 1. Xây dựng vị trí việc làm Xây dựng vị trí việc làm là quá trình thu thập các tƣ liệu và đánh giá một cách có hệ thống các thông tin quan trọng có liên quan đến các công việc cụ thể trong các cơ quan nhà nƣớc nhằm làm rõ bản chất của từng công việc. Đó là việc nghiên cứu các công việc để làm rõ: ở từng công việc cụ thể, công chức có những nhiệm vụ, trách nhiệm gì, họ thực hiện những hoạt động nào, tại sao phải thực hiện và thực hiện nhƣ thế nào, những thiết bị, máy móc, công cụ nào đƣợc sử dụng, những mối quan hệ nào đƣợc thực hiện, các điểu kiện làm việc cụ thể, cũng nhƣ những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và các kỹ năng nào mà công chức cần có để thực hiện công việc.