CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm nguồn nhân lực Theo Lê Thanh Hà (2020), nguồn nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn thể cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên. Trong mỗi doanh nghiệp, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng, không thể thiếu quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp.
Do đó, nhà quản lý cần phải quan tâm, bồi dưỡng nguồn nhân lực của mình để đảm bảo nguồn nhân lực đủ mạnh cả về chất và lượng, đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ ở hiện tại mà trong cả tương lai. Theo tổ chức quốc tế ILO định nghĩa: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động. Theo Đoàn Thị Yến (2019), Nguồn nhân lực là yếu tố hàng đầu quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp. Nguồn nhân lực cùng với các nguồn lực khác tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho doanh nghiệp, ngành, xã hội.
Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Theo Mathis và Jackson (2007), khái niệm Quản trị nguồn nhân lực được hiểu là việc thiết lập các hệ thống chính thức trong một tổ chức, nhằm đáp ứng hiệu quả việc sử dụng tài năng của con người trong quá trình thực hiện mục tiêu của tổ chức đó. Như vậy, quản trị nguồn nhân lực sẽ bao gồm tất cả những quyết định và hoạt động quản lý tác động đến mối liên hệ giữa doanh nghiệp và đội ngũ người lao động. Đây là công việc liên quan đến chiêu mộ, duy trì, phát triển, sử dụng, và cung cấp tiện nghi cho nguồn nhân lực nhằm bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu doanh nghiệp về cả mặt số lượng và chất lượng. Về cơ bản ta có thể chia chức năng của quản trị nguồn nhân lực thành 3 nhóm chính: - Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực: Nhóm chức năng này có nhiệm vụ chính là thu hút, sàng lọc và lựa chọn các ứng viên tiềm năng và có năng lực dựa trên các tiêu chí khách quan cho một công việc cụ thể.
Mục tiêu của quá trình này là thu hút những ứng viên đủ tiêu chuẩn và khuyến khích những ứng viên không đủ tiêu chuẩn tự chọn không tham gia. Trước khi bắt đầu quá trình tuyển dụng, các doanh nghiệp phải thực hiện các kế hoạch nhân sự phù hợp và nên phân loại số lượng nhân viên mà họ sẽ cần. Dự báo về nhân viên phải phụ thuộc vào ngân sách hàng năm của doanh nghiệp, các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp. Quá trình tuyển dụng và lựa chọn là rất quan trọng đối với mọi tổ chức vì nó làm giảm chi phí của những sai lầm như thu hút nhân viên không đủ năng lực, không có động lực và trình độ kém.
Sa thải ứng viên không đủ tiêu chuẩn và tuyển dụng nhân viên mới lại là một quá trình tốn kém. 9 - Nhóm chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo và phát triển là chức năng không thể thiếu của quản trị nguồn nhân lực. Đó là nỗ lực nâng cao kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để cải thiện hiệu suất làm việc ở hiện tại hoặc tương lai của nhân viên thông qua giáo dục, bồi dưỡng và nâng cao kỹ năng hoặc kiến thức kỹ thuật công nghệ, trình độ lành nghề của một người trong một chủ đề cụ thể. - Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực: Nhóm chức năng này chú trọng đến hai vấn đề chính đó là kích thích động viên và quan hệ lao động.
Chức năng kích thích động viên bao gồm các hoạt động liên quan đến khích lệ, động viên nhân viên trong doanh nghiệp làm việc nhiệt tình, hăng say. Chức năng quan hệ lao động bao gồm các hoạt động nhằm hoàn thiện môi trường làm việc và các mối quan hệ trong công việc. Nội dung của quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp gồm: hoạch định nhân lực, phân tích công việc, công tác tuyển dụng nhân lực, công tác bố trí và sử dụng nhân lực, công tác đào tạo và phát triển nhân lực, đánh giá thực hiện công việc… 1. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Theo Idalberto Chiavenato (2011), đào tạo là một phương tiện phát triển các kỹ năng của con người để họ có thể làm việc hiệu quả hơn, sáng tạo và đổi mới hơn, để họ đóng góp tốt hơn đến các mục tiêu của tổ chức và ngày càng trở nên có giá trị.
Do đó, đào tạo là một nguồn hữu ích, vì nó cho phép mọi người đóng góp một cách hiệu quả vào kết quả của doanh nghiệp. Theo John P Wilson (1999), đào tạo là một quá trình được lên kế hoạch để sửa đổi hành vi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua học hỏi kinh nghiệm để đạt được hiệu suất hiệu quả trong một hoạt động hoặc phạm vi hoạt động. Mục đích của nó, trong hoàn cảnh làm việc, là phát triển khả năng của cá nhân và để thỏa mãn các nhu cầu hiện tại và tương lai của tổ chức. 10 Theo Michael Armstrong (2006) thì đào tạo là việc sử dụng các hoạt động chỉ dẫn được hoạch định để thúc đẩy học tập.
Theo Lê Thanh Hà (2020), đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động tiếp thu và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Đào tạo trong doanh nghiệp có 4 dạng: Đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo bổ sung và đào tạo nâng cao. Đào tạo mới là việc tiến hành đào tạo cho những cá nhân chưa qua đào tạo với mục tiêu chính là giúp cho người lao động có trình độ chuyên môn – kỹ thuật nhất định đáp ứng yêu cầu công việc của tổ chức. Trong nhiều trường hợp, do không thể tuyển được lao động có trình độ chuyên môn nghề nghiệp phù hợp trên thị trường lao động hoặc do một số nguyên nhân khác, tổ chức buộc phải tiến hành đào tạo mới.
Đào tạo lại là việc đào tạo cho người lao động đã qua đào tạo song chuyên môn không phù hợp với công việc đảm nhận. Việc đào tạo được tiến hành khi: - Do một số nguyên nhân, tổ chức tuyển người vào vị trí công việc không phù hợp với chuyên môn được đào tạo. Để người lao động có thể thực hiện tốt công việc được giao, cần phải đào tạo lại. - Do thu hẹp sản xuất hoặc do sắp xếp tinh giản bộ máy, người lao động trở thành lao động dôi dư và được chuyển sang làm công việc khác, cần phải đào tạo lại cho người lao động để họ đảm đương được công việc mới.
- Do đầu tư kỹ thuật – công nghệ mới, người lao động cần được đào tạo lại để có thể làm chủ kỹ thuật và công nghệ mới này. Đào tạo bổ sung là việc đào tạo cho người lao động các kiến thức và kỹ năng cần thiết nhằm khắc phục sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng, qua đó giúp họ hoàn thành tốt công việc được giao. Để thực hiện đào tạo bổ sung, 11 người ta thường căn cứ vào tiêu chuẩn cấp bậc công nhân hoặc tiêu chuẩn chức danh công việc hoặc bản mô tả và bản yêu cầu đối với người thực hiện công việc để xác định các kiến thức và kỹ năng mà người lao động còn thiếu, từ đó xây dựng chương trình đào tạo và rèn luyện kỹ năng thích hợp giúp người lao động đáp ứng với yêu cầu của công việc được giao. Đào tạo nâng cao là việc đào tạo nhằm giúp cho người lao động có kiến thức và kỹ năng ở trình độ cao hơn, qua đó giúp cho người lao động hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao với năng suất và hiệu quả cao hơn.
Torpey (1957) định nghĩa đào tạo nguồn nhân lực là “quá trình phát triển các kỹ năng, kiến thức và thái độ của nhân viên nhằm mục đích nâng cao năng lực của nhân viên để chuẩn bị đảm nhận các vị trí quan trọng trong tương lai”. MỤC TIÊU VÀ VAI TRÒ CỦA ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Theo Lê Thanh Hà (2020), đào tạo đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp và người lao động. Mục tiêu của đào tạo nguồn nhân lực Mục tiêu của đào tạo nhân lực là nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và thái độ lao động của người lao động, qua đó giúp tổ chức sử dụng có hiệu quả tối đa nguồn nhân lực hiện có nhằm thực hiện tốt các mục tiêu được đặt ra trong hiện tại cũng như tương lai của tổ chức. Cụ thể hơn, mục tiêu của đào nhân lực là giúp người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình để thực hiện tốt hơn công việc được giao, làm việc tự giác hơn, có thái độ lao động tốt hơn và nâng cao khả năng thích ứng của họ đối với công việc trong tương lai.
Đào tạo nguồn nhân lực luôn được coi là một nội dung quan trọng trong chính sách quản trị nhân lực của tổ chức. 12 Thứ nhất, do nhu cầu của sự tồn tại và phát triển, tổ chức buộc phải tạo ra một đội ngũ lao động có đủ các kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao, đồng thời phải chuẩn bị đủ lực lượng cần thiết để thực hiện các mục tiêu phát triển của mình trong tương lai. Điều đó chỉ có thể có được nếu thực hiện tốt khâu đào tạo. Thứ hai, người lao động luôn có nhu cầu phát triển, nếu không đáp ứng nhu cầu đó, sự hài lòng đối với công việc sẽ giảm, đó tình trạng bỏ việc sẽ gia tăng và năng suất làm việc sẽ giảm.
Vì vậy, đào tạo được coi như là một giải pháp tất yếu để đáp ứng nhu cầu phát triển của người lao động, đồng thời cũng là một biện pháp quan trọng để tạo động lực làm việc cho nhân viên. Thứ ba, để tạo lập và nâng cao lợi thế cạnh tranh với các tổ chức khác, tổ chức buộc phải có đủ các nguồn lực cần thiết, trong đó, nguồn lực quan trọng có ý nghĩa quyết định là nguồn lực con người.