Chương 1. Cơ sở lý luận về thực thi chính sách bảo trợ xã hội Chương 2. Thực trạng thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn Thành phố Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh Chương 3. Quan điểm, mục tiêu và giải pháp đảm bảo yêu cầu thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn Thành phố Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách công và thực thi chính sách công 1. Chính sách công Chính sách công là một đề xuất được thể chế hóa để giải quyết các vấn đề có liên quan và trong thế giới thực, được hưởng bởi một quan niệm và được thực hiện bởi các chương trình như một quá trình hành động được tạo ra hoặc ban hành, thường do chính phủ hoặc tổ chức khác, đến các vấn đề xã hội. Chính sách công là (Public policy): là công cụ cơ bản, là phương thức chủ yếu, chính danh để thực hiện và thể hiện quyền lực nhà nước, quyền lực của giai cấp cầm quyền.11] Tác giả Đỗ Phú Hải định nghĩa: Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền.
[15] Tác giả Lê Chi Mai: “Chính sách công là một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đặt ra trong đời sống kinh tế xã hội theo mục tiêu xác định”.38] Chính sách công có ảnh hưởng đến cách đưa ra các quyết định quan trọng khác và nó thường được hình thành như một phản ứng đối với một vấn đề cụ thể mà công chúng quan tâm. Chính sách công phải đưa ra một số loại giải pháp cho một vấn đề. Từ những phân tích trên có thể khái quát như sau: Chính sách công là một tập hợp các luật, hướng dẫn và hành động do các chính phủ quyết định và thực hiện nhằm mang lại lợi ích cho công chúng. Chính sách công là định hướng hành động được nhà nước lựa chọn, phù hợp với đường lối chính trị để giải quyết những vấn đề chung của xã hội trong một thời kỳ.
Thực thi chính sách công Việc thực thi chính sách có thể bắt đầu sau khi nó được coi là “có hiệu lực” bằng cách được hệ thống hóa trong Bộ quy định của Chính phủ. Việc thực thi các 8 chính sách có thể khác nhau tùy theo cơ quan, công khai các hành vi vi phạm và hành động pháp lý là những công cụ thực thi phổ biến. Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu liên quan và từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính công ở Việt Nam. Thực thi chính sách công được thiết kế nhằm trang bị cho các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới cả các kỹ năng phân tích chính sách cũng như các công cụ và chiến thuật đã được thử nghiệm trên thực địa để thực hiện thành công các chính sách đó.
Thực thi chính sách là một giai đoạn trong quy trình chính sách, trong giai đoạn đó, chính sách được đưa vào áp dụng trong cuộc sống nhằm đem lại những kết quả thực tế đáp ứng mục tiêu đã đề ra. Theo tác giả Lê Như Thanh, Lê Văn Hòa: “Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công” [21, tr. Bảo trợ xã hội 1.1 Khái niệm bảo trợ xã hội Bảo trợ xã hội quan tâm đến việc bảo vệ và giúp đỡ những người nghèo và dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người tàn tật, người thất nghiệp… Bảo trợ xã hội thường được hiểu là tất cả các sáng kiến của Nhà nước và tư nhân nhằm cung cấp chuyển giao thu nhập hoặc tiêu dùng cho người nghèo, bảo vệ người dễ bị tổn thương trước các rủi ro sinh kế, nâng cao vị thế xã hội và quyền của những người bị thiệt thòi; với mục tiêu tổng thể là giảm mức độ dễ bị tổn thương kinh tế và xã hội của các nhóm nghèo, dễ bị tổn thương và bị gạt ra ngoài lề của xã hội. Bảo trợ xã hội, theo định nghĩa của Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội của Liên hiệp quốc, có liên quan đến việc ngăn ngừa, quản lý và khắc phục các tình huống ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc của con người.
UNICEF là đối tác toàn cầu hàng đầu về bảo trợ xã hội, làm việc tại hơn 140 quốc gia trong nhiều chính sách và chương trình; từ các chương trình chuyển tiền 9 mặt đến các dịch vụ phúc lợi xã hội; nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói ở trẻ em ở mọi khía cạnh. Thúc đẩy các hệ thống bảo trợ xã hội dành cho người khuyết tật nhằm thúc đẩy hòa nhập xã hội và giải quyết nguy cơ nghèo đói, bị bỏ rơi… Bảo trợ xã hội bao gồm một loạt các chính sách và chương trình cần thiết để giảm hậu quả trong cuộc sống nghèo đối và khó khăn của người dân, hay những thiến thốn không những về vật chất mà còn về tinh thần…. Đối với FAO: Bảo trợ xã hội là một tập hợp các hoạt động can thiệp có mục tiêu là giảm thiểu rủi ro kinh tế và xã hội cũng như tính dễ bị tổn thương, đồng thời xóa đói giảm nghèo cùng cực. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Bảo trợ xã hội là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp”.
Định nghĩa này nhấn mạnh về bảo hiểm và mở rộng tạo việclàm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức. Theo một tờ báo của Viện Phát triển nước ngoài thì họ lập luận rằng: Bảo trợ xã hội được thiết kế tốt có thể có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và có thể chi trả được ngay cả ở các nước thu nhập thấp. Bảo trợ xã hội vừa là một cách tiếp cận vừa là một bộ chính sách. Là một cách tiếp cận nó tập trung vào việc giảm thiểu rủi ro và tính dễ bị tổn thương vào bao gồm các biện pháp can thiệp từ các khu vực công, tư nhân và tự nguyện cũng như các mạng lưới phi chính thức.
Bảo trợ xã hội cũng là tập hợp các chính sách của chính phủ nhằm cung cấp sự bảo vệ cho cả “người nghèo tích cực và người ít hoạt động hơn”, mang lại lợi ích cho toàn xã hội. Bảo trợ xã hội được thiết kế tốt có thể có tác động tích cực hơn là kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế và có thể giúp định hình mô hình tăng trưởng kinh tế có lợi cho người nghèo. Báo trợ xã hội cho người nghèo ít hoạt động hơn có thể phù hợp với túi tiền ngay cả ở các nước thu nhập thấp và có các yếu tố ngoại tác kinh tế tích cực đáng kể. Bảo trợ xã hội có thể hiểu và nhận định như sau: giảm nghèo bằng cách trực tiếp cung cấp thu nhập hoặc hỗ trợ sản xuất; cải thiện an ninh lương thực bằng cách cung cấp khả năng tiếp cận trực tiếp và ngay lập tức để tăng số lượng, chất lượng và 10 sự đa dạng của thực phẩm; giảm bớt các chiến lược đối phó tiêu cực trong thời kỳ khủng hoảng và nâng cao năng lực của các gia đình và cộng đồng để đối phó, ứng phó và chống chịu với các thảm họa tự nhiên và nhân tạo, bao gồm cả những thảm họa liên quan đến biến đổi khí hậu; cho phép nông dân nghèo tích cực tham gia và đầu tư vào các hoạt động nông nghiệp hiệu quả hơn; tăng năng suất lao động, khả năng làm việc và thu nhập bằng cách tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ giáo dục và y tế….
Việt Nam luôn muốn có một hệ thống BTXH toàn diện phù hợp với tình trạng thu nhập trung bình thấp hơn và thực hiện tốt hơn các quyền cơ bản của con người. Qua những khái niệm, định nghĩa và các giải thích trên cho thấy, đa phần chưa mô tả đầy đủ về Bảo trợ xã hội (BTXH), mà cần giải thích chi tiết hơn nữa về Bảo trợ xã hội. Bảo trợ xã hội không chỉ là hoạt động của cộng động và xã hội mà phải là trách nhiệm Đảng, của Nhà nước và không những thế còn là hoạt động có tính chất về công tác xã hội, không dành riêng cho một hoặc một số đối tượng xã hội. Do vậy, ta có thể thấy rằng Bảo trợ xã hội (BTXH) là các biện pháp, giải pháp, hoạt động trợ giúp bảo đảm của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng Bảo trợ xã hội (người bị thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống) để nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống.
Việc đảm bảo này thông qua các hoạt động cung cấp tài chính, tặng phẩm, vất chật khác cho đối tượng nhằm thúc đẩy phát triển giúp họ giảm nghèo lâu dài. Chính sách trợ giúp xã hội là sự đảm bảo của Nhà nước, sự hỗ trợ của cộng đồng về thu nhập và các điều kiện sống thiết yếu bằng các hình thức và biện pháp khác nhau đối với các thành viên trong xã hội khi họ rơi vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, yếu thế hoặc hẫng hụt trong cuộc sống mà bản thân họ không đủ khả năng tự lo được cuộc sống của bản thân và gia đình ở mức tối thiểu. Trong những năm gần đây, Việt Nam là một quốc gia bị tác động nặng nề bởi tình trạng biến đổi khí hậu, hàng năm phải gánh chịu hậu quả nặng nề của hàng chục cơn bão, tình trạng đói nghèo còn cao cho nên Nhà nước luôn coi thực hiện chính sách trợ giúp xã hội là một nhiệm vụ quan trọng góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội. 11 Trợ giúp xã hội có những nội dung và hình thức ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào tính chất khó khăn nhiều hay ít, tạm thời hay lâu dài, hoàn cảnh bản thân và gia đình họ gia nhập quan hệ nào của trợ giúp xã hội.