phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, Luận văn gồm ba chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Chƣơng 2. Thực trạng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1. Dân chủ và Quy chế dân chủ cơ sở 1. Khái niệm về dân chủ Dân chủ là tài sản vô cùng quý báu của con người, có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. “Dân chủ” có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại.
Nhà sử học, chính trị học người Hy Lạp Hêrôđốt là người đầu tiên đưa ra khái niệm về dân chủ. “Dân chủ” là một từ ghép bao gồm hai từ: “Demos” có nghĩa là dân và “Kratos” có nghĩa là quyền lực. Do đó, từ “Democratia” - “Dân chủ” - có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Khi bàn về khái niệm dân chủ là gì, các nhà khoa học đã nêu ra khá nhiều ý kiến như: - Ý kiến thứ nhất cho rằng, dân chủ là sản phẩm của quan hệ giai cấp, là tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền đối với xã hội.
- Ý kiến thứ hai hiểu khái niệm dân chủ bao hàm ba nội dung cơ bản là nội dung chính trị dân chủ chính trị , nội dung văn minh nhân đạo dân chủ xã hội là thành quả quan trọng nhất của văn minh và nhân đạo của loài người và nội dung xã hội của dân chủ dân chủ xã hội là hình thức tồn tại của xã hội hiện đại. - Ý kiến thứ ba cho rằng, dân chủ cần được xem xét theo nhiều khía cạnh, nhưng với nghĩa chung nhất, phổ biến nhất, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. - Ý kiến thứ tư của một số nhà khoa học, tôn vinh dân chủ là một công trình bi tráng trong hàng chục vạn năm của loài người. Đó là khát vọng, lý tưởng chung mà hàng triệu con tim và khối óc cùng hướng tới, đấu tranh không mệt mỏi để giành lấy dù phải hy sinh xương máu.
Dân chủ là khát 8 vọng mà chính chúng ta đang vươn tới. - Ý kiến thứ năm cho rằng, dân chủ không chỉ là một vấn đề chính trị hay xã hội, mà xét theo bề sâu chính là một vấn đề văn hóa. Bởi thế, xử lý vấn đề dân chủ không thể tách rời khỏi mối quan hệ truyền thống - hiện đại trong văn hóa. Dân chủ còn là một yếu tố của văn hóa, một thành tựu của văn hóa đã có từ lâu đời trong truyền thống văn hóa của dân tộc.
Theo các nhà kinh điển: dân chủ là sản phẩm tự quyết của nhân dân, phản ánh sự tồn tại của con người với tất cả ý trí, tài năng và lợi ích của họ; dân chủ là sản phẩm của đấu tranh giai cấp; quyền dân chủ bị chế định bởi tương quan giai cấp, trạng thái phát triển của sản xuất và trình độ văn hóa chung, trước hết là văn hóa chính trị của nhân dân; dân chủ là một hình thức Nhà nước mà ở đó thừa nhận quyền ngang nhau của dân cư trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý xã hội [28, tr. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế xã hội nhất định” [19]. Như vậy, dân chủ là vấn đề phức tạp, có nội dung khá rộng lớn.
Để hiểu rõ về dân chủ phải xem xét dân chủ ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, dù tiếp cận vấn đề này ở góc độ nào thì nhìn chung các ý kiến đều thống nhất với nhau một luận điểm chung đó là: “Dân chủ” là quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực, trong đó quyền lực chính trị là quan trọng nhất để tổ chức và quản lý xã hội, phát triển con người, phát triển xã hội, do đó dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Ở Việt Nam, dân chủ còn được hiểu như một mục tiêu phấn đấu của 9 dân tộc đã được ghi rõ trong Hiến pháp: “Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Những mục tiêu đó có mối quan hệ mật thiết với nhau và không thể tách rời vì dân có giàu thì nước mới mạnh, có dân chủ thì mới có công bằng xã hội, có dân chủ thực sự thì dân mới giàu và nước mới mạnh. Đồng thời, hệ thống chính trị ở nước ta dựa trên thiết chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Việc phát huy, thực hiện dân chủ được tiến hành không thể tách rời khỏi thiết chế này. Như vậy, dân chủ là chế độ chính trị, là quyền lực thuộc về nhân dân.
Nhân dân sử dụng sức mạnh quyền lực để thực hiện quyền làm chủ của mình, dân chủ cũng là đặc điểm cơ bản của một xã hội công bằng, văn minh. Ở nước ta, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ của đa số nhân dân trong xã hội vì chế độ đó là “của dân, do dân, vì dân” 1. Khái niệm về dân chủ cơ sở, Quy chế dân chủ ở cơ sở Theo TS. Trương Hồ Hải: “Ở bất cứ đất nước nào, xã hội nào, tổ chức nào, nếu xét theo cấu trúc thì cũng bao gồm một hệ thống từ nhỏ đến lớn.
Mà những cấu trúc nhỏ này nếu xét trong một hệ thống thì nó có tư cách như một chỉnh thể tương đối hoàn chỉnh, độc lập nhưng lại có sự thống nhất tạo nên một nền tảng cho toàn bộ hệ thống thì đó được gọi là cơ sở” [18, tr. Cơ sở là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống chính trị ở nước ta. Cơ sở (xã, phường, cơ quan, trường học,. là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, công tác, học tập, là nơi trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước trên các mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh., là nơi mà quyền dân chủ của nhân dân cần được thực thi một cách đúng đắn và có hiệu quả.
Cơ sở cũng là nơi thường xuyên diễn ra sự tiếp xúc trực tiếp giữa nhân dân với đảng bộ, chính quyền địa phương trong điều hành xử lý các công việc hàng ngày. Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của 10 việc thực hiện dân chủ và luôn đặt sự phát triển dân chủ gắn liền với Hiến pháp và pháp luật. Đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận đánh giá cao vai trò của dân chủ, dân chủ cơ sở. Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện để nhân dân phát huy được sức mạnh làm chủ của nhân dân và thực hiện đúng chủ trương “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” vì chỉ khi dân chủ được thực thi từ cơ sở thực sự thì các công việc của Nhà nước mới đạt được hiệu quả cao, tạo được uy tín, lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước.
Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” [27]. + Dân chủ trực tiếp: là nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực Nhà nước. Tức là nhân dân thể hiện một cách trực tiếp quyết định, phản ảnh đúng ý chí, nguyện vọng của mình trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước, quản lý xã hội đến các cơ quan có thẩm quyền. Hình thức biểu hiện của dân chủ trực tiếp như ứng cử, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân, thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, trưng cầu dân ý.
+ Dân chủ đại diện: là hình thức nhân dân thông qua các cơ quan Nhà nước, các cá nhân được nhân dân ủy quyền để thực hiện ý chí của nhân dân. Dân chủ đại diện có ưu điểm là với hình thức này nhân dân quản lý được mọi mặt đời sống xã hội, nhưng có hạn chế là ý chí, nguyện vọng của nhân dân phải qua trung gian của người đại diện, có thể nội dung đề đạt chưa đúng như mong muốn của nhân dân bởi nhiều lý do như quan điểm nhìn nhận vấn đề, trình độ nhận thức. Thực hiện dân chủ cơ sở là việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách thường xuyên nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân 11 dân. Để dân chủ được triển khai một cách sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội thì phải cần có một Quy chế.
Quy chế dân chủ ở cơ sở là văn bản pháp luật về trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc bảo đảm người dân được thực hiện đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định pháp luật; đảm bảo để nhân dân được biết, được bàn, được thực hiện và được kiểm tra các công việc của chính quyền cơ sở. Ngoài ra, Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ". Nội dung của Quy chế là phát huy dân chủ ở cơ sở phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, dân chủ đi đôi với trật tự, kỷ cương; quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ; chống quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật. Đặc điểm của Quy chế dân chủ ở cơ sở Việc ban hành Quy chế dân chủ cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sự đoàn kết, xây dựng Đảng bộ, chính quyền trong sạch, vững mạnh góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.