Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN XUNG ĐỘT XÃ HỘI Xung đột xã hội đã được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu từ rất sớm, đến nay các kết quả nghiên cứu về xung đột xã hội được ứng dụng rộng rãi trong xã hội. Những nghiên cứu về xung đột xã hội, quản 1ý xung đột xã hội là tiền đề hình thành khoa học về xung đột, một chuyên ngành khoa học mới nghiên cứu về lợi ích thực tế của con người, đó là những nhu cầu cơ bản, trực tiếp, thường xuyên trong cuộc sống, từ đó đưa ra những cách thức, giải pháp xử lý, hạn chế, giải tỏa những mâu thuẫn, xung đột trong thực tiễn đời sống. Lý thuyết xung đột đóng vai trò quan trọng để nhận thức xã hội.
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả, có ba thành tố chính tạo nên lý thuyết xung đột, đó là: Xung đột mang tính phổ biến, đặc trưng cơ bản nhất diễn ra trong thực tế đời sống xã hội; xung đột xuất phát từ lợi ích khác nhau của các nhóm xã hội tạo nên giá trị một xã hội trong thực tế; mọi xung đột xã hội xảy ra đều do cạnh tranh về lợi ích giữa các nhóm trong xã hội. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài Đã có rất nhiều công trình, tài liệu ở nước ngoài lý giải về lý thuyết xung đột, xung đột xã hội. Tiêu biểu là Lewis A. Coser, nhà xã hội học đương đại Mỹ (1913), một trong những người đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về xung đột xã hội.
Công trình nghiên cứu nổi tiếng của ông “Functions of Social Conflict” (Chức năng của xung đột xã hội) (1956) [108]. Đây là một công trình nghiên cứu nổi tiếng của Lewis A. Coser, trong đó ông đã đưa ra định nghĩa về xung đột. Ông quan niệm: Xung đột theo đúng nghĩa của nó là “đấu tranh”, nó xuất hiện khi có sự thiếu hụt quyền lực, vị trí hay công cụ cần thiết để thỏa mãn những đòi hỏi kỳ vọng.
Trong cuộc “đấu tranh” sẽ làm cô lập, lấn át hoặc dập tắt mục đích của đối phương. Coser, xung đột là một phần của các mối quan hệ và không nhất thiết nó phải là dấu hiện của sự bất ổn. Xung đột như là phương tiện để đạt đến một kết quả nhất định và xung đột là mục đích tự thân 7 của nó [108, tr. Theo quan niệm của Lewis A.
Coser, các nhà xã hội học đương đại tập trung vào một số khía cạnh của hành vi xã hội trong khi bỏ qua rất nhiều điểm quan trọng về lý thuyết. Một trong những khía cạnh bị bỏ quên của lý thuyết xã hội học liên quan đến các chức năng của xung đột xã hội. Coser phân biệt giữa xung đột “thực tế” và xung đột “không thực tế”. Xung đột thực tế phát sinh từ sự thất vọng của nhu cầu cụ thể.
Xung đột không thực tế là nhu cầu của những nhân vật, những nhóm phản diện. Ở đây xung đột chính là mục đích và không có lựa chọn thay thế cho các phương tiện, mặc dù mục tiêu của sự thù địch có thể dễ dàng thay đổi. Nếu một khi các bên liên quan đạt được mục tiêu của mình, thì xung đột thực tế sẽ chấm dứt. Sự khác biệt này cho thấy lý do tại sao chúng ta không nên giải thích hiện tượng xung đột xã hội hoàn toàn về phía gây căng thẳng.
Coser cho rằng, xung đột thiết lập lại sự thống nhất. Khắc phục sự khiếm khuyết trong khái niệm xung đột của Lewis A. Frink đã phân tích và đưa ra khái niệm sau: “Sự xung đột xã hội là bất kỳ một tình huống xã hội nào hoặc một quá trình nào, mà trong đó hai hay nhiều hơn những thực tế xã hội gắn liền với nhau bởi một hình thức đối kháng tâm lý và đối kháng hành động”. Theo khái niệm của K.
Frink, xung đột tồn tại, biểu hiện dưới hai hình thức: Đối kháng tâm lý và đối kháng hành động. Đây là tiền đề để các nhà nghiên cứu về xung đột sau này phát triển và thường dựa vào hình thức thứ hai để đưa ra quan điểm riêng của mình [99]. Nhà khoa học người Mỹ J.Chalin cho rằng: “Xung đột là hai hoặc nhiều xung lực hay động cơ có tính đối kháng lẫn nhau xẩy ra một cách đồng thời” [103, tr. Còn các tác giả Severy, Brigham và Schlenker đưa ra quan niệm: “Xung đột là hoàn cảnh mà ở đó mục đích của hai hay nhiều người không thống nhất nhau ở một số mức độ nào đó.
Song không phải tất cả thành viên đều có thể thực hiện các mục đích mong muốn của mình” [115, tr. Parsons (1902- 1979), nhà lý luận xã hội học người Mỹ, người theo trường phái chức năng, coi xung đột xã hội là căn bệnh, là sự dị thường của một xã hội lành mạnh. Trong lúc đó, Kozer cho rằng, xung đột xã hội có chức năng tăng cường tính thích ứng 8 của tổ chức xã hội, bảo đảm tính liên tục của xã hội (Kozer thừa nhận tính tích cực của xung đột xã hội [107, tr. Đứng trên quan điểm của trường phái phân tâm học, S.
Freud quan niệm về xung đột xã hội: “Xung đột chủ yếu là do những xung lực bản năng của mỗi cá nhân vấp phải thực tế, các xung năng ấy không thể thỏa mãn thực tế hoặc thỏa mãn không đầy đủ”, ông khẳng định rằng, xung đột là một thực trạng luôn xảy ra trong thực tế xã hội [65, tr. Dahrendorfn (1958), một đại biểu của trường phái Frankfurt (là trường phái lý thuyết xã hội tân mác-xít), người có đóng góp lớn trong việc phát triển lý thuyết xung đột. Dahrendorf xuất bản cuốn sách “Modern Social Conflict” (xung đột xã hội hiện đại) [112], trong tác phẩm, R. Dahrendorf cho rằng, đời sống xã hội luôn có xung đột xã hội, nếu xã hội không có xung đột thì đó là điều không bình thường.
Mâu thuẫn nảy sinh từ sự đấu tranh quyền lực giữa các nhóm xã hội có lợi ích đối lập nhau. Quyền lực là khả năng để con người thực hiện ý chí của mình bất chấp sự kháng cự của người khác. Nhờ quyền lực mà người này có thể chiếm đoạt lợi ích của những người khác yếu thế hơn. Đây là nguồn gốc của mâu thuẫn và xung đột.
Chuẩn mực không đơn thuần chỉ là sự nhất trí của xã hội mà bắt nguồn từ ý chí, lợi ích của người có quyền. Phân tầng xã hội, bất bình đẳng xã hội, mâu thuẫn và xung đột cũng từ đó mà sinh ra [112]. Dahrendorf trong cuốn sách “Class and class conflict in industrial society” (Giai cấp và xung đột giai cấp trong xã hội công nghiệp) xuất bản năm 1959 [97], đã lập luận rằng tiêu chuẩn định tính cho giai cấp cơ bản dựa trên sự phân biệt về quyền sở hữu những tư liệu sản xuất là hạn hẹp, và muốn mở rộng tiêu chí đó đến lĩnh vực quyền lực. Dahrendorf viết: “Trong mọi tổ chức xã hội đều có một sự phân phối khác nhau về quyền lực và quyền hành… Sự phân phối khác nhau về quyền lực và quyền hành đó luôn luôn sẽ trở nên một nhân tố quyết định của những xung đột xã hội có hệ thống của một loại hình tương thích với những xung đột giai cấp, được hiểu theo nghĩa truyền thống của từ này… Nguồn gốc cấu trúc của những xung đột nhóm như thế phải tìm kiếm ở sự sắp xếp những vai trò xã hội được giao phó, với vị thế thống trị hoặc vị thế thần phục” [97].
Dahrendorf đưa ra thuyết cấu trúc chức năng, cho rằng “tất cả các xã hội ở mọi thời điểm là những quá trình thay đổi”. “Bất đồng và xung đột ở mọi thời điểm trong hệ thống xã hội” và “nhiều yếu tố xã hội đóng góp vào sự tan rã và thay đổi”. Karl Marx đã xây dựng một học thuyết mới, học thuyết khoa học để đáp ứng những yêu cầu mới của lịch sử. Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng của lịch sử, Karl Marx đã đưa ra những luận giải khoa học sâu sắc.
Trong “Luận cương về Phoiơbắc”, Karl Marx đã nêu lên một vấn đề có tính nguyên tắc là: “Trước hết phải hiểu bản thân cơ sở trần tục ấy trong mâu thuẫn của nó và sau đó cách mạng hóa nó trong thực tiễn bằng cách xóa bỏ mâu thuẫn đó” [50, tr. Toàn bộ lý luận xung đột xã hội của Karl Marx đã được xây dựng trên cơ sở của một thế giới quan mới, thế giới quan duy vật triệt để, trong đó, phần trọng yếu là chủ nghĩa duy vật về lịch sử. Những quan điểm của chủ nghĩa duy vật về lịch sử lần đầu tiên đã được trình bày một cách tương đối đầy đủ có hệ thống trong “Hệ tư tưởng Đức” do Karl Marx và Ph.Ăngghen viết chung. Điều quan trọng trong tác phẩm này là các ông đã phát hiện ra “cái chìa khóa” để nhận thức các vấn đề xã hội.
Với các luận điểm rất cơ bản như “tổng thể những lực lượng sản xuất mà con người đã đạt được, quyết định trạng thái xã hội” [50, tr.42], và “tất cả mọi xung đột trong lịch sử đều bắt đầu từ mâu thuẫn giữa những lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp” (tức quan hệ sản xuất - TG) [50, tr. Những quan điểm cơ bản đó chính là những nhân tố có tính nền tảng trong việc xây dựng lý thuyết về xung đột xã hội của Chủ nghĩa Mác. Như vậy Karl Marx đã chứng minh, lịch sử của xã hội thực chất là lịch sử thay thế nhau của các hình thái KT-XH. Trong đó, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất thể hiện thành xung đột của những nhóm, những tập đoàn, giai cấp xã hội có lợi ích đối địch nhau.
Mâu thuẫn và xung đột xã hội của các nhóm, tập đoàn xã hội - giai cấp được thể hiện trên các bình diện kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng. Các giai cấp nắm được quyền lực xã hội luôn tìm mọi cách bảo vệ những lợi ích ích kỷ của mình. Còn các giai cấp bị trị thì đấu tranh chống lại, vì vậy hình thành, bùng phát xung đột. Đây là cội nguồn cơ bản 10 của các loại xung đột xã hội.
Ông đã sử dụng hai nhóm trong các lý thuyết xung đột. Nhóm thứ nhất là giai cấp tư sản sở hữu và kiểm soát các phương tiện sản xuất, phân bố của cải, hàng hoá, dịch vụ, được coi là nhóm thống trị. Nhóm thứ hai là giai cấp công nhân, những người cung cấp lao động cần thiết để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Tập đoàn chi phối là các nhà tư bản và nhóm cấp dưới là tầng lớp lao động.