Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải đảm bảo phát triển bền vững đô thị (Nghiên cứu trường hợp quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa, Hà Nội)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Nhung thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2015), thuộc chuyên ngành Xã hội học (mã số 62.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Cao Đàm và PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quá trình đô thị hóa nhanh tại Việt Nam và trên thế giới. Dân số đô thị toàn cầu gia tăng nhanh chóng và ước tính chiếm tới 70% tổng dân số thế giới vào năm 2050 [Shen và cộng sự, 2011]. Quá trình này tạo ra nhiều hệ quả về hạ tầng, nhà ở, việc làm, bất bình đẳng xã hội và áp lực môi trường sống [Trịnh Duy Luân, 2005]. Tại Hà Nội, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng ngày là 5.370 tấn, trong đó khu vực các quận, thị xã chiếm 3.200 tấn và khu vực các huyện chiếm trên 2.000 tấn [Thụy Anh, 2014]. Báo cáo của URENCO Hà Nội (2011) cho thấy khối lượng chất thải rắn tăng trung bình 15%/năm; tỷ lệ thu gom ở nội thành đạt khoảng 95%, trong khi ngoại thành chỉ đạt 60%. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các nghiên cứu trước đây về quản lý rác thải tập trung vào khía cạnh kỹ thuật, công nghệ xử lý và kinh tế - tài chính, mà chưa chú trọng đúng mức đến khía cạnh xã hội, đặc biệt là vai trò của người dân với tư cách chủ thể thải rác. Các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng tại Việt Nam phần lớn mới dừng lại ở việc mô tả hành vi phân loại, thu gom tại hộ gia đình hoặc khảo sát tại khu vực nông thôn; thiếu các công trình nghiên cứu sâu về sự tham gia của người dân đô thị trong việc đóng góp ý kiến, xây dựng chính sách và tham gia vào quá trình ra quyết định quản lý môi trường.
Mục đích nghiên cứu: Luận án cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng quản lý rác thải hiện nay ở đô thị và sự tham gia của người dân trong hoạt động này; từ đó đề xuất những giải pháp tăng cường sự tham gia của người dân, hướng tới thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đô thị.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đánh giá tình hình quản lý rác thải của Hà Nội, tại quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa, tập trung vào ba hoạt động phân loại rác tại nguồn, thu gom và xử lý rác.
- Tìm hiểu các hình thức và mức độ tham gia của người dân trong quá trình quản lý rác thải tại quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa.
- Nhận diện những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải; đối chiếu phân tích các yếu tố này trong bối cảnh đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững đô thị hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp thúc đẩy sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải đảm bảo phát triển bền vững đô thị.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Hoạt động quản lý rác thải được thực hiện thế nào tại quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa?
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Người dân quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa đã tham gia vào quá trình quản lý rác thải đô thị theo những hình thức nào? Có sự khác biệt về mức độ tham gia giữa các nhóm xã hội khác nhau hay không?
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải?
Giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết nghiên cứu 1: Hoạt động quản lý rác thải ở quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa có sự khác nhau về cách thức phân loại, thu gom, xử lý rác thải và đặc điểm xã hội của thành viên đội thu gom rác do sự khác biệt về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và các đặc trưng về lối sống và không gian.
- Giả thuyết nghiên cứu 2: Người dân tham gia vào quá trình quản lý rác thải đô thị theo hình thức trực tiếp và gián tiếp, biểu hiện ở các mức độ khác nhau. Người dân thuộc các nhóm xã hội khác nhau thì khác nhau về mức độ tham gia, trong đó những cá nhân thuộc các gia đình có người làm quản lý đoàn thể xã hội, và chính quyền có mức độ tham gia cao hơn các cá nhân khác. Nữ giới và người nghỉ hưu là những nhóm xã hội có mức độ tham gia cao.
- Giả thuyết nghiên cứu 3: Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải, trong đó các yếu tố cá nhân như nghề nghiệp, giới tính và các bên liên quan trong hoạt động quản lý rác thải, gồm chính quyền và nhóm công nhân vệ sinh môi trường có mối quan hệ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ tham gia của người dân.
Đối tượng nghiên cứu: Sự tham gia của người dân Hà Nội trong hoạt động quản lý rác thải đảm bảo phát triển bền vững đô thị.
Khách thể nghiên cứu: Người dân, chính quyền, đoàn thể xã hội, công nhân vệ sinh môi trường (VSMT) và người thu mua phế liệu.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Quận Hoàn Kiếm (đại diện khu vực nội thành, khảo sát tại phường Phan Chu Trinh và phường Hàng Mã) và huyện Ứng Hòa (đại diện khu vực ngoại thành, khảo sát tại xã Cao Thành - thôn Cao Lãm và xã Liên Bạt - thôn Lưu Khê).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2014. Khảo sát bảng hỏi tiến hành từ tháng 4/2013 đến tháng 8/2013.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào chuỗi quy trình quản lý rác thải sinh hoạt hộ gia đình gồm phân loại, thu gom và xử lý rác; xem xét sự tham gia trực tiếp và tham gia gián tiếp (đóng phí vệ sinh, tuyên truyền vận động, kiểm tra giám sát và ra quyết định).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng quan các công trình nghiên cứu đi trước theo ba nhóm chủ đề:
Thứ nhất, những nghiên cứu về hoạt động quản lý rác thải:
- Trên thế giới, các nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết của tiếp cận tổng hợp và hệ thống đối với quản lý rác thải [Hoffman & Muller, 2001; Seadon, 2010]. Nhiều tác giả mô tả thực trạng bãi rác lộ thiên, sự gia tăng lượng thải và tồn tại trong khâu thu gom, xử lý tại các nước đang phát triển [Pathak cùng cộng sự, 2012; Balasubramanian & Birundha, 2011; Bai cùng cộng sự, 2011; Menikpura cùng cộng sự, 2012]. Khó khăn về thể chế, công nghệ lạc hậu và thiếu hụt ngân sách được phân tích bởi Desmond [2006], Ezeah & Roberts [2012], Ianos [2012], Karani & Jewasikiewitz [2007]. Các giải pháp kỹ thuật, kinh tế, thể chế và xã hội được đề xuất bởi Skinner [1993], Price & Joseph [2000], Kaosol [2009], Ozkan [2010], Jalil [2010], Ibrahim cùng cộng sự [2012], Memon [2010], Nahman & Godfrey [2010].
- Tại Việt Nam, các nghiên cứu tập trung vào hạ tầng, công nghệ xử lý và ô nhiễm môi trường quanh các bãi chôn lấp [Nguyen Phuoc Dan & Nguyen Trung Viet, 2009; Nguyễn Đức Khiển, 2009; Nguyen Phuc Thanh cùng cộng sự, 2010]. Giải pháp phân loại rác tại nguồn (chương trình 3R), nâng cao ý thức cộng đồng và xử phạt vi phạm được thảo luận bởi Ngo Kim Chi & Pham Quoc Long [2011], Nguyễn Đức Khiển và cộng sự [2010], Ranjith & Chowdhury [2007].
Thứ hai, những nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực môi trường và quản lý rác thải:
- Về mặt lý luận, sự tham gia được xem xét như sự phân phối lại quyền lực công dân theo thang 8 bậc của Sherry R. Arnstein [1969], mô hình rút gọn 5 bậc của Wilcox [1996], và thang đo bổ sung bậc "tự quản lý" cho các nước kém phát triển của Choguill [1996]. Trong đánh giá tác động môi trường (EIA) và đánh giá chiến lược môi trường (SEA), sự tham gia được phân tích bởi O’Faircheallaigh [2010], Ran [2012], Spengler [2009].
- Trong quản lý rác thải, vai trò của khu vực tư nhân phi chính thức và hộ gia đình được nghiên cứu bởi Ahmed & Ali [2006], Chakrabarti cùng cộng sự [2009], Kruljac [2012], Joseph [2006]. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia gồm tính minh bạch, sự sẵn sàng chi trả, tính phức tạp của phân loại rác và nhận thức của người dân [Vicente, 2008; Bull cùng cộng sự, 2010; Feo & Gisi, 2010; Zhang cùng cộng sự, 2012].
- Tại Việt Nam, các nghiên cứu về vai trò cộng đồng xuất hiện từ thập niên 1990 [Mai Quỳnh Nam, 2006; Trịnh Duy Luân, 2006; Ngô Thị Kim Yến & Phạm Văn Lương, 2008; Trần Hùng, 2010]. Nghiên cứu hành vi và rào cản nhận thức, thói quen trong quản lý rác thải được thực hiện bởi Vũ Thị Kiều Dung [1995], Viện Xã hội học [1995], Vũ Cao Đàm [2002], Tô Duy Hợp & Đặng Đình Long [2006], Tran Hang cùng cộng sự [2012]. Hostovsky cùng cộng sự [2010] nhận định sự tham gia của cộng đồng tại Việt Nam trong đánh giá tác động môi trường còn ở giai đoạn sơ khai do rào cản văn hóa như tâm lý sợ "mất mặt".
Thứ ba, những nghiên cứu về phát triển đô thị bền vững:
- Trên thế giới, các mô hình phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường và bổ sung văn hóa, đạo đức, thể chế được trình bày bởi Basiago [1999], Smith [2011], Alpopi cùng cộng sự [2011], Teelucksingh [2007], Wang cùng cộng sự [2010], Maiello cùng cộng sự [2013].
- Tại Việt Nam, quá trình thực hiện cam kết phát triển bền vững được phân tích bởi Phạm Khôi Nguyên [2004], Đoàn Minh Huấn & Vũ Văn Hậu [2010], David & Chris [1997], Lê Hồng Kế [2009], Giang Thanh Long [2012], Vincoli [1996], Nguyen Thi Binh Minh cùng cộng sự [2001], Huge cùng cộng sự [2010], Nguyen & Coowanitwong [2011].
Khoảng trống luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trong nước chỉ dừng ở việc mô tả thực trạng thu gom hoặc khảo sát sự tham gia trong các dự án phát triển nông thôn. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng đô thị trong quản lý rác thải, mở rộng sang các hình thức tham gia gián tiếp (đóng phí, giám sát, vận động) và phân tích quyền lực tham gia ra quyết định quản lý môi trường đô thị theo các khung bậc thang lý thuyết.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Hệ khái niệm công cụ:
- "Rác thải": Luận án sử dụng thuật ngữ "rác thải" thay cho "chất thải rắn" nhằm đảm bảo tính gần gũi, thống nhất trong nhận thức của người dân, giới hạn ở rác thải sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình [O’Connell, 2011; Basu, 2010; Cù Huy Đấu & Nguyễn Thị Hường, 2010].
- "Quản lý rác thải": Quá trình liên tục gồm quy hoạch, phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển và xử lý [Hoffman & Muller, 2001; Cù Huy Đấu & Nguyễn Thị Hường, 2010]. Luận án tập trung vào ba khâu: phân loại, thu gom và xử lý.
- "Sự tham gia của người dân": Được tiếp cận theo hai phương diện: hành động xã hội của cá nhân/hộ gia đình và quá trình đối thoại, chia sẻ trách nhiệm, trao quyền cho công dân trong xây dựng, thực thi quyết định môi trường [Harding cùng cộng sự, 2009; Marzuki, 2009].
- "Phát triển bền vững đô thị": Sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế nhanh và an toàn, tiến bộ và công bằng xã hội, cùng việc bảo vệ, cải thiện chất lượng môi trường đô thị [Hội nghị Johannesburg 2002; Hội nghị Rio 1992; Hà Huy Thành, 2011].
Khung lý thuyết vận dụng:
- Lý thuyết hành động xã hội: Sử dụng quan điểm của Max Weber về 4 loại hình hành động (duy lý công cụ, duy lý giá trị, cảm xúc, truyền thống) và quan điểm của Talcott Parsons [1961] về hệ thống chuẩn mực, giá trị, vị trí và vai trò xã hội để phân tích động cơ, tính duy lý và các yếu tố chi phối hành vi xả rác, phân loại, thu gom của người dân.
- Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng: Vận dụng thang đo 8 bậc của Arnstein [1969] chia làm 3 cấp độ: Không tham gia (Vận động, Trị liệu tâm lý), Dấu hiệu tham gia (Cung cấp thông tin, Tham vấn, Xoa dịu), Trao quyền cho công dân (Cộng tác, Ủy quyền, Quyền kiểm soát); kết hợp thang đo 5 bậc của Wilcox [1995] và thang đo cho các nước đang phát triển có bậc "Tự quản lý" của Choguill [1996].
- Lý thuyết cạnh tranh các chức năng môi trường: Do Dunlap & Catton [1992] khởi xướng và Dunlap & Marshall [2007] phát triển. Môi trường có 3 chức năng: Trạm cung cấp tài nguyên (supply depot), Không gian sống (living space), và Kho chứa rác thải (waste repository). Vấn đề rác thải đô thị thể hiện sự cạnh tranh và xung đột giữa chức năng không gian sống và kho chứa rác [Vũ Cao Đàm, 2002].
- Tiếp cận phát triển bền vững: Dựa trên các nguyên tắc của Hội nghị Rio 1992 (người gây ô nhiễm phải trả tiền, người sử dụng phải trả tiền, bình đẳng nội thế hệ và liên thế hệ, ủy thác công chúng) và 3 trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường [Bilgin, 2012; Williams & Millington, 2004; Byrch cùng cộng sự, 2004; Harding cùng cộng sự, 2010].
- Lý thuyết đô thị hóa: Nhìn nhận quản lý rác thải như một hệ quả tất yếu của quá trình gia tăng quy mô dân số, thay đổi phương thức sản xuất và tiêu dùng đô thị [Labbe, 2011; Trịnh Duy Luân, 2005].
Phương pháp nghiên cứu:
- Phân tích tài liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo quản lý nhà nước về VSMT của phường/xã, báo cáo đề án Nông thôn mới của UBND huyện Ứng Hòa, số liệu thống kê dân số và mức sống.
- Phỏng vấn sâu cá nhân (PVS): Thực hiện 26 cuộc phỏng vấn sâu, gồm 14 người dân, 3 tổ trưởng tổ dân phố/trưởng thôn, 5 cán bộ xã/phường, 3 công nhân VSMT/thành viên đội thu gom, và 1 người thu mua phế liệu.
- Thảo luận nhóm tập trung (TLN): Thực hiện 3 cuộc thảo luận nhóm:
- Thôn Lưu Khê (xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa): 8 người dân làm nông nghiệp (5 nữ, 3 nam).
- Phường Phan Chu Trinh (quận Hoàn Kiếm): 9 phụ nữ (đánh giá dự án 3R và vai trò Hội Phụ nữ).
- Phường Hàng Mã (quận Hoàn Kiếm): 11 người dân (3 nữ, 8 nam).
- Khảo sát bằng bảng hỏi: Khảo sát thu thập dữ liệu định lượng từ tháng 4/2013 đến tháng 8/2013. Mẫu khảo sát gồm N = 417 hộ gia đình (quận Hoàn Kiếm: 204; huyện Ứng Hòa: 213).
- Chọn mẫu: Chọn mẫu cụm kết hợp ngẫu nhiên hệ thống (khoảng cách chọn mẫu k = N/n = 3 hoặc 6 dựa trên thống kê hộ dân tháng 3/2013). Do thực tế nhiều hộ vắng mặt hoặc đăng ký hộ khẩu nhưng không cư trú, tác giả kết hợp lấy mẫu thuận tiện dự trữ tại các tuyến phố/thôn nghiên cứu.
| STT |
Tiêu chí khảo sát |
Quận Hoàn Kiếm (N=204) - Số lượng |
Quận Hoàn Kiếm (N=204) - Tỷ lệ % |
Huyện Ứng Hòa (N=213) - Số lượng |
Huyện Ứng Hòa (N=213) - Tỷ lệ % |
| 1 |
Giới tính |
|
|
|
|
|
- Nam |
97 |
47,5 |
87 |
40,8 |
|
- Nữ |
107 |
52,5 |
126 |
59,2 |
| 2 |
Trình độ học vấn |
|
|
|
|
|
- Không biết chữ |
0 |
0,0 |
1 |
0,5 |
|
- Tiểu học |
5 |
2,5 |
25 |
11,8 |
|
- THCS |
16 |
8,0 |
89 |
42,0 |
|
- THPT |
49 |
24,4 |
66 |
31,1 |
|
- Trung cấp |
19 |
9,5 |
12 |
5,7 |
|
- Cao đẳng/Đại học |
99 |
49,3 |
19 |
9,0 |
|
- Trên ĐH |
12 |
6,0 |
0 |
0,0 |
| 3 |
Độ tuổi |
|
|
|
|
|
- Dưới 30 tuổi |
40 |
20,2 |
12 |
5,7 |
|
- Từ 30 – 45 tuổi |
44 |
22,2 |
48 |
22,7 |
|
- Từ 46 – 61 tuổi |
69 |
34,8 |
99 |
46,9 |
|
- Trên 61 tuổi |
45 |
22,7 |
52 |
24,6 |
| 4 |
Đặc điểm nghề nghiệp chính |
|
|
|
|
|
- Làm theo giờ hành chính |
61 |
29,9 |
20 |
9,5 |
|
- Làm theo ca |
10 |
4,9 |
4 |
1,9 |
|
- Làm bán thời gian |
5 |
2,5 |
0 |
0,0 |
|
- Không cố định thời gian làm việc |
57 |
27,9 |
131 |
62,1 |
|
- Không có thu nhập |
9 |
4,4 |
22 |
10,4 |
|
- Nghỉ hưu |
62 |
30,4 |
34 |
16,1 |
- Kỹ thuật xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 16.0. Thang đo Likert 5 điểm (1: tham gia thấp nhất, 5: tham gia cao nhất) dùng để tính điểm trung bình mức độ tham gia. Các kiểm định thống kê áp dụng: kiểm định Chi-square (mối quan hệ giữa hai biến định danh); phân tích phương sai One-way ANOVA (so sánh giá trị trung bình mức độ tham gia giữa các địa bàn); phân tích tương quan cặp Bivariate Correlation (xác định tương quan giữa mức độ tham gia với tuổi, giới tính, học vấn, nhận thức); kiểm định Independent-Samples T-test (so sánh trung bình mức độ tham gia giữa các nhóm xã hội).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế về ba mảng nội dung chính: hoạt động quản lý rác thải đô thị, sự tham gia của cộng đồng trong quản lý môi trường, và phát triển đô thị bền vững. Tác giả chỉ ra rằng tại các nước phát triển, quản lý rác thải đã chuyển hướng sang tiếp cận hệ thống vòng đời và kinh tế tuần hoàn, trong khi các nước đang phát triển tiếp tục đối mặt với khó khăn về thiếu hụt tài chính, công nghệ chôn lấp lạc hậu và xung đột thể chế. Phân tích các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy sự thiếu hụt các bằng chứng thực nghiệm về sự tham gia gián tiếp và mức độ trao quyền thực chất cho cư dân đô thị trong việc hoạch định chính sách bảo vệ môi trường.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ
Chương 2 làm rõ hệ khái niệm công cụ (rác thải sinh hoạt, quản lý rác thải, sự tham gia của người dân, phát triển bền vững đô thị) và xây dựng khung phân tích xã hội học. Luận án kết hợp lý thuyết hành động xã hội của Weber và Parsons để nhận diện hành vi phân loại, thu gom rác dưới hai góc độ: hành vi duy lý công cụ (tuân thủ quy định, tối ưu hóa lợi ích gia đình) và hành động truyền thống (thói quen vứt rác, lối ứng xử cộng đồng). Chương này vận dụng các bậc thang tham gia của Arnstein [1969] và Choguill [1996] để làm thước đo đánh giá quyền lực công dân; đồng thời áp dụng lý thuyết cạnh tranh chức năng môi trường của Dunlap & Catton [1992] để giải thích các mâu thuẫn nảy sinh khi không gian sống bị xâm lấn bởi chức năng kho chứa rác trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa gia tăng 3,4%/năm tại Việt Nam.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐÔ THỊ
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm về tình hình quản lý rác thải và đo lường sự tham gia của người dân tại quận Hoàn Kiếm (phường Phan Chu Trinh, Hàng Mã) và huyện Ứng Hòa (xã Cao Thành, Liên Bạt).
- Về công tác quản lý: Quận Hoàn Kiếm có mật độ dân cư đông, hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển (doanh thu tăng 18,75%/năm), công tác thu gom do công ty môi trường đô thị thực hiện với tần suất cao, tỷ lệ thu gom đạt mức cao. Huyện Ứng Hòa dựa vào các tổ/đội thu gom tự quản ở thôn xóm, phương tiện thô sơ, việc xử lý rác chủ yếu chôn lấp cục bộ hoặc đổ tại các điểm tập kết lộ thiên.
- Về sự tham gia trực tiếp: Hoạt động phân loại rác tại nguồn còn mang tính tự phát; tỷ lệ phân loại triệt để còn thấp, người dân chủ yếu tách riêng các loại phế liệu có thể bán lại (giấy vụn, vỏ lon, kim loại). Hoạt động thu gom và xử lý rác thải thể hiện sự khác biệt rõ rệt: tại Hoàn Kiếm, người dân đưa rác ra xe gom theo giờ quy định hoặc đổ tại thùng rác công cộng; tại Ứng Hòa, người dân tự xử lý một phần rác hữu cơ tại vườn nhà và đưa phần còn lại cho đội thu gom thôn.
- Về sự tham gia gián tiếp: Tỷ lệ người dân chấp hành đóng phí vệ sinh đạt mức cao tại cả hai địa bàn. Hoạt động tuyên truyền, vận động được thực hiện chủ yếu qua các đoàn thể (đặc biệt là Hội Phụ nữ). Hoạt động kiểm tra, giám sát môi trường tại khu dân cư còn lỏng lẻo, chủ yếu dựa vào các quy ước tổ dân phố/thôn xóm.
- Về mức độ tham gia ra quyết định: Kết quả khảo sát mức độ tham gia của người dân vào quá trình xây dựng, thảo luận và ban hành các quyết định quản lý rác thải (thang Likert 5 điểm) cho thấy sự tham gia chỉ dừng ở các bậc thang thấp (cung cấp thông tin và tham vấn mang tính hình thức), chưa đạt tới mức độ đồng hành ra quyết định hay trao quyền kiểm soát theo thang đo Arnstein.
CHƯƠNG 4: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ
Chương 4 nhận diện và phân tích tác động của hai nhóm yếu tố:
- Nhóm yếu tố chủ quan thuộc về người dân: Nhu cầu, tâm lý, mức độ nhận thức về môi trường và các đặc điểm nhân khẩu xã hội. Kiểm định thống kê cho thấy yếu tố giới tính (phụ nữ tham gia nhiều hơn nam giới), độ tuổi (người cao tuổi, nghỉ hưu tham gia thường xuyên hơn người trẻ), và tính chất nghề nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ tham gia vào các hoạt động VSMT.
- Nhóm yếu tố khách quan:
- Vai trò của các bên liên quan: Sự tương tác giữa người dân với công nhân VSMT/đội thu gom; vai trò tổ chức của chính quyền cơ sở (UBND xã/phường) và các đoàn thể xã hội (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh); sự tham gia của nhóm người thu mua phế liệu phi chính thức trong việc phân loại và tái chế rác.
- Thiết chế xã hội: Các quy định, cơ chế thu phí, chế tài xử phạt và thói quen sinh hoạt truyền thống của cộng đồng dân cư.
Chương 4 kết thúc bằng việc thảo luận các mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố này trong khung khổ ba chiều cạnh phát triển bền vững: kinh tế (chi phí quản lý và giá trị tái chế), xã hội (công bằng trong tiếp cận dịch vụ và thực hiện quy chế dân chủ), và môi trường (giảm tải áp lực lên các bãi chôn lấp tập trung như Nam Sơn, Xuân Sơn).
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án gồm 4 điểm:
- Bổ sung các bình diện của sự tham gia: So với các công trình đi trước chỉ khảo sát hành vi trực tiếp (phân loại, thu gom, xử lý cơ học), luận án mở rộng phân tích các bình diện tham gia gián tiếp của người dân, bao gồm: thực hiện nghĩa vụ tài chính (đóng phí vệ sinh), kiểm tra và giám sát cộng đồng, tham gia tuyên truyền vận động, và việc đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng các quy chế, quyết định môi trường tại cơ sở.
- Nhận diện và đo lường hệ thống yếu tố tác động: Luận án phân tách rõ hai nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức, tâm lý, nhu cầu, đặc điểm nhân khẩu xã hội) và khách quan (thiết chế chính sách, thói quen cộng đồng, sự phối hợp giữa chính quyền, công nhân VSMT, đoàn thể và mạng lưới thu gom phế liệu phi chính thức); chỉ ra mối quan hệ tương hỗ và rào cản giữa các bên liên quan.
- Đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh phát triển bền vững đô thị: Luận án gắn kết dữ liệu thực nghiệm về hành vi của người dân với ba trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường, đối chiếu với các nguyên tắc phát triển bền vững (nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, bình đẳng nội thế hệ) và đánh giá thực chất vị trí của người dân trên thang bậc trao quyền.
- Đóng góp cho chuyên ngành Xã hội học môi trường: Làm sáng tỏ thêm đối tượng nghiên cứu của xã hội học môi trường tại Việt Nam thông qua việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, cũng như mối quan hệ tương tác xã hội giữa các nhóm chủ thể trước các vấn đề môi trường nảy sinh.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Về mặt chính sách và thể chế: Cần hoàn thiện cơ chế trao quyền thực chất cho người dân tham gia đóng góp ý kiến khi ban hành các mức phí vệ sinh và quy định thu gom rác tại địa phương; tăng cường tính minh bạch và chế tài xử phạt hành vi vi phạm VSMT.
- Về mặt tổ chức thực hiện: Tăng cường phối hợp giữa công ty môi trường đô thị, chính quyền cấp phường/xã, ban quản lý thôn/tổ dân phố và các đoàn thể xã hội (đặc biệt phát huy nòng cốt của Hội Phụ nữ); ghi nhận và kết nối mạng lưới thu gom phế liệu phi chính thức vào chuỗi phân loại rác thải đô thị.
- Về mặt truyền thông: Đổi mới nội dung tuyên truyền theo hướng cung cấp thông tin hai chiều, chuyển hóa nhận thức thành thói quen phân loại rác tại nguồn, duy trì tính bền vững của các mô hình thí điểm (như dự án 3R).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Do nguồn lực, tài chính và thời gian nghiên cứu của một cá nhân có hạn, luận án không thể tiến hành khảo sát trên toàn bộ 12 quận và 17 huyện của Hà Nội mở rộng mà phải giới hạn phạm vi nghiên cứu điển hình tại 2 địa bàn (quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa).
- Trong quá trình triển khai khảo sát bảng hỏi, nhiều hộ gia đình trong danh sách ngẫu nhiên hệ thống đi vắng hoặc không sinh sống tại địa bàn đăng ký hộ khẩu, buộc người nghiên cứu phải sử dụng kết hợp phương pháp chọn mẫu thuận tiện dự trữ, điều này ảnh hưởng nhất định đến tính đại diện tuyệt đối của mẫu điều tra.
- Phạm vi nội dung tập trung vào rác thải sinh hoạt của hộ gia đình, chưa bao quát rác thải công nghiệp, rác thải y tế hay chất thải thương mại quy mô lớn.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các quận/huyện khác có đặc thù đô thị hóa mới (vùng ven đô đang chuyển đổi nhanh từ nông nghiệp sang đô thị) để kiểm chứng sự biến đổi của các yếu tố tác động.
- Đi sâu nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội dài hạn sau khi kết thúc các dự án can thiệp quốc tế (như dự án phân loại rác 3R) tại các đô thị lớn ở Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Xã hội học, Xã hội học môi trường, Xã hội học đô thị, Quản lý môi trường và Đô thị học: Phần cơ sở lý luận cung cấp khung vận dụng lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết cạnh tranh chức năng môi trường và các thang bậc đo lường sự tham gia của Arnstein, Wilcox, Choguill.
- Giảng viên đại học: Sử dụng nguồn số liệu định lượng (N = 417), hệ thống 26 phỏng vấn sâu và biên bản 3 cuộc thảo luận nhóm làm tư liệu giảng dạy thực hành phương pháp nghiên cứu xã hội học kết hợp định tính và định lượng.
- Các nhà quản lý đô thị, cán bộ hoạch định chính sách môi trường tại Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, UBND các cấp, cùng các doanh nghiệp dịch vụ môi trường (như URENCO): Bản mô tả thực trạng và bảng tương quan các yếu tố ảnh hưởng là căn cứ thực tế để xây dựng cơ chế huy động sự tham gia của người dân, cải tiến quy trình thu gom và điều chỉnh mức phí vệ sinh môi trường.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án lựa chọn những địa bàn nào làm điểm nghiên cứu trường hợp và vì sao?
Luận án lựa chọn quận Hoàn Kiếm (đại diện khu vực nội thành, khảo sát tại phường Phan Chu Trinh và phường Hàng Mã) và huyện Ứng Hòa (đại diện khu vực ngoại thành, khảo sát tại xã Cao Thành - thôn Cao Lãm và xã Liên Bạt - thôn Lưu Khê). Sự lựa chọn này dựa trên sự khác biệt rõ rệt về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, lối sống và không gian: Hoàn Kiếm là quận trung tâm có mật độ dân cư buôn bán cao và có phường triển khai thí điểm dự án 3R; trong khi Ứng Hòa là huyện ngoại thành đầu tiên được Hà Nội chọn làm thí điểm phân loại và thu gom rác thải sinh hoạt nông thôn.
-
Quy mô mẫu khảo sát và các phương pháp nghiên cứu thực tế được thực hiện như thế nào?
Luận án áp dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng:
- Định lượng: Điều tra bằng bảng hỏi N = 417 hộ gia đình (quận Hoàn Kiếm: 204 người, huyện Ứng Hòa: 213 người) từ tháng 4/2013 đến tháng 8/2013, xử lý dữ liệu bằng SPSS 16.0 (thang Likert 5 điểm, Chi-square, ANOVA, Bivariate Correlation, Independent-Samples T-test).
- Định tính: 26 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân (14 người dân, 3 tổ trưởng/trưởng thôn, 5 cán bộ xã/phường, 3 công nhân VSMT, 1 người thu mua phế liệu) và 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung (8 người dân thôn Lưu Khê, 9 phụ nữ phường Phan Chu Trinh, 11 người dân phường Hàng Mã).
- Luận án vận dụng những lý thuyết chuyên ngành nào để phân tích sự tham gia của người dân?
Luận án vận dụng 5 khung lý thuyết và tiếp cận:
- Lý thuyết hành động xã hội (Max Weber và Talcott Parsons).
- Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng (Sherry R. Arnstein 1969, David Wilcox 1995, Charles L. Choguill 1996).
- Lý thuyết cạnh tranh các chức năng môi trường (Riley Dunlap & William R. Catton 1992, Dunlap & Marshall 2007).
- Tiếp cận phát triển bền vững đô thị (các nguyên tắc Rio 1992 và 3 trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường của Hội nghị Johannesburg 2002).
- Lý thuyết đô thị hóa.
- Sự tham gia của người dân được phân tách thành những hình thức cụ thể nào trong luận án?
Sự tham gia được phân tích trên hai bình diện chính:
- Tham gia trực tiếp: Hoạt động phân loại rác thải tại hộ gia đình, hoạt động đổ rác và đưa rác vào quy trình thu gom, cách thức tự xử lý rác thải.
- Tham gia gián tiếp: Hoạt động đóng phí vệ sinh môi trường; hoạt động tuyên truyền, vận động cộng đồng; hoạt động kiểm tra, giám sát giữ gìn vệ sinh tại khu dân cư; và việc tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng, ban hành các quyết định quản lý rác thải tại cơ sở.
- Nhóm xã hội nào có mức độ tham gia vào các hoạt động vệ sinh môi trường cao hơn theo phát hiện của luận án?
Kết quả kiểm định và phân tích cho thấy mức độ tham gia có sự khác biệt rõ rệt theo nhân khẩu xã hội: nữ giới có mức độ tham gia vào việc phân loại, thu gom và các hoạt động tuyên truyền VSMT cao hơn nam giới; nhóm người cao tuổi và cán bộ nghỉ hưu có tỷ lệ tham gia trực tiếp và giám sát thường xuyên hơn nhóm người trẻ; các cá nhân trong gia đình có người tham gia quản lý chính quyền hoặc đoàn thể xã hội có mức độ tham gia tích cực hơn các nhóm dân cư khác.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Nhung đã làm rõ bức tranh thực trạng và các chiều cạnh tham gia trực tiếp cũng như gián tiếp của người dân trong quản lý rác thải tại hai địa bàn đại diện cho nội thành (Hoàn Kiếm) và ngoại thành (Ứng Hòa) của Hà Nội. Dựa trên việc kết hợp các khung lý thuyết xã hội học môi t